Với hơn một nửa diện tích rừng tự nhiên của Việt Nam nằm ở khu vực biên giới, vùng sâu vùng xa, vai trò của đồng bào dân tộc thiểu số trong công tác giữ rừng ngày càng được nhìn nhận là yếu tố then chốt, không chỉ về bảo vệ tài nguyên mà còn góp phần giữ vững chủ quyền lãnh thổ.
Với người Cơ Tu ở phía Tây Đà Nẵng, rừng được tôn kính như "Mẹ rừng" - nơi khởi nguồn sự sống, dựng làng lập bản. Từ tín ngưỡng ấy, cộng đồng đã hình thành hệ thống luật tục, hương ước bảo vệ rừng nghiêm ngặt được trao truyền qua nhiều thế hệ: muốn lấy một thân gỗ làm nhà cũng phải xin phép hội đồng già làng, còn rừng già, rừng đầu nguồn được xem như "cấm địa".
Tuy nhiên, dưới sức ép của biến đổi khí hậu, khai thác trái phép và biến động kinh tế - xã hội, những "hàng rào" luật tục truyền thống đang đứng trước nguy cơ phai nhạt. Số liệu từ nghị trường Quốc hội cho thấy diện tích rừng tự nhiên cả nước vẫn tiếp tục thu hẹp qua từng năm dù tỷ lệ che phủ rừng đã đạt hơn 42%.
Tại Đà Nẵng, diện tích rừng được giao trực tiếp cho cộng đồng dân cư và đồng bào dân tộc thiểu số hiện mới đạt khoảng 17,8% tổng diện tích rừng của vùng, trong khi phần lớn diện tích còn lại do các tổ chức nhà nước quản lý. Thành phố đã triển khai giao khoán bảo vệ rừng cho người dân với mức hỗ trợ 600.000 đồng/ha/năm, song nhìn nhận chính sách hỗ trợ hiện tại vẫn chưa đủ mạnh để khuyến khích người dân tham gia phát triển rừng bền vững lâu dài.
Nhiều ý kiến cho rằng, đẩy mạnh giao, khoán rừng thực chất hơn cho đồng bào dân tộc thiểu số, kết hợp phát huy tri thức bản địa và tạo sinh kế bền vững, sẽ là giải pháp căn cơ để hạn chế nạn phá rừng trong thời gian tới.
Nguồn tham khảo: Tạp chí Đông Nam Á.
Xem thêm tại www.phuquyviet.com
Nhận xét
Đăng nhận xét