Chuyển đến nội dung chính

Vì sao chuỗi liên kết nguyên liệu ngành gỗ Việt Nam vẫn chưa bền vững?

 Ngành chế biến gỗ Việt Nam đang ghi nhận những con số xuất khẩu đầy tự hào, nhưng phía sau đà tăng trưởng ấy là một điểm nghẽn ngày càng lộ rõ: chuỗi liên kết giữa doanh nghiệp chế biến và người trồng rừng vẫn còn quá lỏng lẻo để bảo đảm nguồn nguyên liệu ổn định, minh bạch và đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường quốc tế.


Hiện nguyên liệu phục vụ chế biến xuất khẩu đến từ hai nguồn chính là gỗ nhập khẩu và gỗ khai thác từ rừng trồng, cao su trong nước. Khi đơn hàng quốc tế tăng lên, áp lực dồn về nguồn cung nội địa càng lớn. Do các nhóm sản phẩm khác nhau đòi hỏi loại gỗ khác nhau - từ gỗ đường kính lớn cho đồ nội thất, gỗ cỡ trung cho ván dán, đến cành ngọn và phụ phẩm cho dăm và viên nén - nhiều doanh nghiệp cùng tranh giành một nguồn nguyên liệu như keo, bạch đàn. Tình trạng này càng rõ nét tại các tỉnh phía Bắc, nơi nguồn gỗ rừng trồng thiếu hụt nghiêm trọng sau các đợt bão lũ, đẩy giá nguyên liệu lên cao và gây bất lợi cho nhóm sản xuất ván, đồ gỗ so với nhóm làm dăm. Trong khi những doanh nghiệp có tiềm lực tài chính chủ động hợp tác xây dựng vùng nguyên liệu với người trồng rừng thì phần lớn doanh nghiệp nhỏ vẫn ở thế bị động, phụ thuộc vào nguồn cung trôi nổi trên thị trường.


Theo TS Hà Công Tuấn, nguyên Thứ trưởng Thường trực Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường), gốc rễ của vấn đề nằm ở thể chế. Cả nước hiện có khoảng 4 triệu ha rừng sản xuất, hơn 1 triệu hộ trồng rừng và hàng nghìn doanh nghiệp chế biến, nhưng số chuỗi liên kết ổn định, bền chặt giữa hai bên lại rất khiêm tốn. Hệ quả là nguyên liệu bị phân tán, phần lớn giao dịch qua trung gian thương lái, khiến việc truy xuất nguồn gốc - yêu cầu bắt buộc của nhiều thị trường xuất khẩu - trở nên khó khăn. Một con số đáng chú ý là khoảng 74% sản lượng gỗ rừng trồng hiện nay chỉ được dùng làm dăm và viên nén, 18% cho ván, trong khi chưa tới 8% được đưa vào chế biến đồ gỗ nội, ngoại thất - phân khúc mang lại giá trị gia tăng cao nhất. Đây chính là dư địa lớn nếu ngành chuyển dịch được sang phát triển gỗ lớn.


Để tháo gỡ, theo TS Hà Công Tuấn, chính sách cần chuyển trọng tâm từ hỗ trợ trồng rừng đơn lẻ sang xây dựng cả một hệ sinh thái liên kết chuỗi giá trị, trong đó người trồng rừng được coi là đối tác sản xuất bình đẳng chứ không chỉ là người bán nguyên liệu thô. Doanh nghiệp cần chủ động đầu tư vào vùng nguyên liệu ngay từ khâu chọn giống, hướng dẫn kỹ thuật canh tác cho đến cam kết bao tiêu sản phẩm; hợp tác xã đóng vai trò cầu nối giữa hộ trồng rừng nhỏ lẻ với doanh nghiệp, đi kèm các chính sách ưu đãi tín dụng, thuế và hỗ trợ chứng chỉ rừng bền vững.


Chuyển đổi số cũng được xem là nền tảng không thể thiếu. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa vùng trồng, ứng dụng bản đồ số và nhật ký điện tử sẽ giúp doanh nghiệp đáp ứng tốt hơn yêu cầu truy xuất nguồn gốc ngày càng ngặt nghèo từ các thị trường như EU hay Hoa Kỳ. Tại Đồng bằng sông Cửu Long, hướng đi được đề xuất là phát triển mô hình rừng gỗ lớn gắn với nghiên cứu giống phù hợp, kéo dài chu kỳ khai thác từ 7 đến 10 năm thay vì khai thác non như hiện nay. Theo tính toán của giới chuyên gia, nếu đường kính gỗ được nâng lên trên 30 cm, giá trị mỗi mét khối gỗ có thể tăng từ khoảng 1,15 triệu đồng lên 4-6 triệu đồng, tạo bước nhảy vọt về hiệu quả kinh tế cho cả người trồng rừng lẫn doanh nghiệp.


Bài toán liên kết nguyên liệu càng trở nên cấp bách trong bối cảnh ngành gỗ đang đối mặt áp lực lớn tại thị trường Hoa Kỳ - nơi tiêu thụ lượng lớn đồ gỗ xuất khẩu của Việt Nam và cũng là nơi doanh nghiệp trong nước thường xuyên phải đối diện các biện pháp phòng vệ thương mại. Để giữ vững thị trường này cũng như mục tiêu tăng trưởng chung, ngành gỗ cần song hành cả hai yếu tố: một chuỗi cung ứng nguyên liệu minh bạch, truy xuất được nguồn gốc, và năng lực quản trị linh hoạt trước những thay đổi chính sách từ bên ngoài. Nếu chỉ chạy theo sản lượng mà bỏ qua chất lượng liên kết giữa các mắt xích trong chuỗi, ngành gỗ Việt Nam khó có thể giữ vững vị thế cạnh tranh về lâu dài.


Nguồn tham khảo: Tạp chí Thương hiệu và Sản phẩm.


Xem thêm tại www.phuquyviet.com

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tìm hiểu gỗ cây Muồng đen hay Muồng xiêm và ứng dụng đời sống

xem:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-go-cay-muong-den-hay-muong-xiem-va-ung-dung-doi-song/ TÌM HIỂU VỀ CÂY MUỒNG ĐEN Muồng đen hay muồng xiêm (danh pháp hai phần: Senna siamea (Lam.) H.S.Irwin & Barneby, đồng nghĩa: Cassia siamea Lam., 1785) thuộc họ Đậu (Fabaceae). Là cây nguyên sản ở vùng Đông Nam Á. Ở Việt Nam cây mọc hoang dại trong các rừng tự nhiên từ Quảng Ninh đến các tỉnh Tây Nguyên như Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk và phía nam như Đồng Nai. Là loài cây trung tính, thiên về ưa sáng; chịu hạn tốt. Cây thường xanh. Vỏ gần nhẵn, cành non có khía phủ lông tơ mịn. Lá kép lông chim một lần chẵn, mọc cách, dài 10–15 cm, cuống lá dài 2–3 cm. Lá kèm nhỏ, sớm rụng. Lá chét 7-15 đôi, hình bầu dục rộng đến bầu dục dài, dài 3–7 cm rộng 1-2 đầu tròn với một mũi kim ngắn. Cụm hoa chùy lớn ở đầu cành, nhiều hoa. Lá bắc hình trứng ngược, đầu có mũi nhọn dài. Cánh đài 5 hình tròn, dày, không bằng nhau, mặt ngoài phủ lông nhung. Cánh tràng màu vàng có hình trứng ngược, rộng, ...

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn...

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc g...

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt...

Gỗ xá xị dùng trong phong thủy – Cách giữ mùi thơm lâu dài – hướng dẫn nhận biết

GỖ XÁ XỊ LÀ GÌ? Gỗ xá xị hay còn được gọi là gỗ gù hương, thuộc hàng gỗ cao cấp, đắt tiền thường được dân chơi gỗ tại Việt Nam săn tìm. Gỗ xá xị thường được sử dụng trong vật phong thủy giúp cho môi trường xung quanh thêm sang trọng và đẳng cấp. XEM:  https://phongthuygo.com/go-xa-xi-dung-trong-phong-thuy-cach-giu-mui-thom-lau-dai-huong-dan-nhan-biet/ Gỗ xá xị là loại cây sinh sống trong rừng sâu, có màu đỏ thẫm, đường vân gỗ tự nhiên uốn lượn xoáy sâu vào phần lõi tạo ra những đường xoắn ốc kỳ diệu. Hình dạng những khối gỗ cũng rất đa dạng nên ứng dụng được nhiều sản phẩm có giá trị cao. Gỗ xa xị đỏ đặc biệt hơn những loại gỗ khác bởi màu đỏ tươi cảm giác mang lại sự may mắn. Đây là lý do tại sao người ta lựa chọn loại gỗ này cho những sản phẩm tượng phong thủy đắt tiền. Tinh dầu gỗ xá xị còn giúp cải thiện tình trạng sức khỏe của con người, tinh thần sảng khoái, minh mẫn. Một số nơi sử dụng gỗ xá xị như một bài thuốc dân gian chữa bện phong hàn, bệnh tiêu hóa ở trẻ nh...

Tìm hiểu chi tiết về gỗ Trắc và ý nghĩa trong đời sống, phong thủy

GỖ TRẮC Gỗ trắc hay còn được gọi với cái tên khá Nam Bộ là gỗ Cẩm Lai, nó được coi là cây gỗ đặc trưng của vùng Đông Nam Á. Gỗ trắc sinh trưởng và phát triển tương đối chậm nên sản lượng gỗ không nhiều vì thế mà giá thành cũng khá cao không phải ai cũng sở hữu được. Cây gỗ trắc khá lớn, cây trưởng thành tới kỳ thu hoạch thường cao trung bình 25m. Thân cây to và chắc chắn với đường kính lên tới 1m. Là loại cây cổ thụ lâu năm nhưng vỏ cây gỗ trắc lại không bị sần sùi hay tróc vẩy mà ngược lại rất nhẵn và có màu nâu xám. Gỗ trắc ưa sáng nên những tán lá nhanh chóng vươn lên hứng nắng mặt trời, lá có màu xanh rêu nhạt. Họ nhà gỗ trắc không sinh sống thành một khu vực chung mà sống rải rác cách nhau một khoảng khá xa. Độ cao mà cây sinh sống không quá 500m, thích hợp với những vùng đồi núi Việt Nam. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-trac-va-y-nghia-trong-doi-song-phong-thuy/ Gỗ trắc là cây gỗ thuốc nhóm I trong nhóm gỗ quý của Việt Nam, phân bố chủ yếu ở vù...