Dù ngành gỗ Việt Nam đã vươn lên nhóm các quốc gia xuất khẩu đồ gỗ hàng đầu thế giới với kim ngạch đạt 17,2 tỷ USD trong năm 2025, nhiều doanh nghiệp chế biến sâu vẫn phải phụ thuộc đáng kể vào nguồn gỗ nhập khẩu.
Tại Diễn đàn "Tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy phát triển nguyên liệu bền vững cho ngành gỗ chế biến sâu" do Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp tổ chức ngày 23/7, ông Ngô Sỹ Hoài, Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST), cho biết sau hơn 30 năm phát triển, ngành lâm nghiệp Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu quan trọng, với độ che phủ rừng phục hồi lên trên 42% và hình thành ngành công nghiệp chế biến gỗ có vị thế đáng kể trên thị trường thế giới. Thành công này đến từ bốn động lực chính: cải cách giao đất, giao rừng; sự phát triển của thị trường dăm gỗ; tiến bộ về giống cây trồng, đặc biệt là cây keo; và sự phát triển đồng thời của bốn nhóm sản phẩm gồm đồ gỗ, dăm gỗ, ván công nghiệp và viên nén.
Tuy nhiên, theo ông Hoài, mô hình tăng trưởng dựa trên rừng chu kỳ ngắn, gỗ nhỏ và lợi thế chi phí thấp đang dần chạm giới hạn, trong khi các thị trường xuất khẩu lớn ngày càng đòi hỏi cao về truy xuất nguồn gốc, chứng chỉ rừng, trách nhiệm môi trường và chống mất rừng. Số liệu VIFOREST cho thấy tổng nhu cầu nguyên liệu quy đổi cho bốn nhóm sản phẩm xuất khẩu chủ lực năm 2025 khoảng 59,5 triệu m³, trong đó riêng dăm gỗ và viên nén chiếm tới 78,1%, còn đồ gỗ xuất khẩu và ván công nghiệp chỉ chiếm khoảng 21,9%. "Điều này cho thấy ngành gỗ Việt Nam không thiếu sinh khối mà đang thiếu nguồn gỗ lớn có chất lượng cao phục vụ chế biến sâu", ông Hoài nhấn mạnh, đồng thời cho rằng đây là nguyên nhân khiến nhiều doanh nghiệp phải phụ thuộc vào gỗ nhập khẩu, làm tăng chi phí và giảm sức cạnh tranh.
Phần lớn diện tích rừng trồng của hộ dân hiện được khai thác sau 3-5 năm, chủ yếu phục vụ sản xuất dăm gỗ, bột giấy hoặc viên nén, khó đáp ứng yêu cầu sản xuất đồ gỗ giá trị gia tăng cao. Nguyên nhân không phải do người dân không muốn phát triển rừng gỗ lớn, mà vì quy mô đất nhỏ lẻ, áp lực tài chính và rủi ro cao khi phải kéo dài chu kỳ khai thác lên 7-15 năm, trong khi tín dụng dài hạn, bảo hiểm rừng và cơ chế chia sẻ rủi ro còn hạn chế. Ông Hoài cho rằng ngành cần chuyển từ tư duy "trồng cây rồi khai thác" sang "quản lý rừng", đồng thời đề xuất phát triển tín dụng xanh phù hợp chu kỳ rừng dài, xây dựng bảo hiểm rừng, mở rộng chứng chỉ FSC, PEFC và tăng cường liên kết chuỗi giá trị.
TS. Nguyễn Đức Thành, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Công nghiệp rừng, nhận định ngành gỗ cần đồng thời đổi mới công nghệ chế biến sâu và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Dù năm 2025 xuất khẩu gỗ lần đầu vượt mốc 17 tỷ USD và năm 2026 đặt mục tiêu 19 tỷ USD, mô hình tăng trưởng hiện vẫn phụ thuộc nhiều vào gia công; khối doanh nghiệp FDI dù không nhiều nhưng chiếm khoảng 46% kim ngạch xuất khẩu nhờ lợi thế công nghệ, vốn và hệ thống phân phối.
Từ góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Thế Mai, Tổng Giám đốc Công ty CP Lâm nghiệp Tháng Năm (Tập đoàn TH), cho biết tình trạng thiếu hụt gỗ lớn trong nước đang ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của các doanh nghiệp chế biến sâu, buộc nhiều đơn vị phải nhập khẩu gỗ với chi phí cao. Đại diện doanh nghiệp cũng đề xuất điều chỉnh thuế xuất khẩu dăm gỗ theo lộ trình lên khoảng 5-10%, xem xét hạn ngạch xuất khẩu tại khu vực có nguy cơ thiếu nguyên liệu, đồng thời hỗ trợ giống cây chu kỳ dài và mở rộng diện tích rừng có chứng chỉ FSC, PEFC.
Nguồn tham khảo: Nhadautu.vn.
Xem thêm tại www.phuquyviet.com
Nhận xét
Đăng nhận xét