Chuyển đến nội dung chính

Khát vọng về 'giấc mơ' trồng rừng gỗ lớn

 TUYÊN QUANG Trồng rừng gỗ lớn không chỉ thực hiện giấc mơ lớn về kinh tế mà còn là hướng đi có ý nghĩa lâu dài, bền vững với môi trường và hệ sinh thái.

Ông Trần Tuấn Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Kinh tế Trung ương cùng lãnh đạo tỉnh Tuyên Quang tham quan mô hình trồng rừng tại Tuyên Quang. Ảnh: Đào Thanh.

Ông Trần Tuấn Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Kinh tế Trung ương cùng lãnh đạo tỉnh Tuyên Quang tham quan mô hình trồng rừng tại Tuyên Quang. Ảnh: Đào Thanh.

Rừng gỗ lớn mang lại lợi ích lớn

Phó Giám đốc Sở NN-PTNT Tuyên Quang Mai Thị Hoàn cho biết, hiện nay Tuyên Quang đã làm rất tốt việc bảo vệ, phát triển rừng và phát triển kinh tế lâm nghiệp. Minh chứng là Tuyên Quang đã trở thành địa phương đứng thứ 3 cả nước về độ che phủ rừng, với độ che phủ rừng đạt hơn 65%. Tổng diện tích rừng hiện có là hơn 422.400ha, trong đó diện tích rừng trồng gỗ nguyên liệu là trên 140.700ha.

Hàng năm tỉnh thực hiện khai thác và trồng mới hơn 10.000ha rừng; tổng sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng đạt trên 900.000m3. Tỉnh đã có trên 43.800ha rừng được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững. Giai đoạn 2021 - 2025, Tuyên Quang phấn đấu phát triển diện tích rừng gỗ lớn đạt trên 89.000ha.

Tuy nhiên việc phát triển rừng kinh tế lâm nghiệp, phát triển rừng gỗ lớn vẫn còn đó những khó khăn, rào cản. Nhất là việc thực thi các chủ trương nghị quyết, việc triển khai luật… Như vừa rồi, qua đi khảo sát thực tế của ngành NN-PTNT Tuyên Quang tại huyện Chiêm Hóa và huyện Hàm Yên khi triển khai thực hiện trồng rừng gỗ lớn vẫn còn những khó khăn, tồn tại như: Kinh tế của đa phần hộ trồng rừng còn khó khăn, cần khai thác rừng non, gỗ đường kính nhỏ để đảm bảo cuộc sống. Ngoài ra, rừng trồng chu kỳ kinh doanh dài dễ gặp rủi ro bởi sâu bệnh hại, thiên tai như gió, bão làm gãy đổ, suy giảm chất lượng rừng, do đó người dân phải khai thác rừng ở giai đoạn sinh trưởng nhanh, chưa thành thục tự nhiên.

Cùng với đó, hiện nay giá lâm sản chưa ổn định, giá gỗ lớn chưa chênh lệch nhiều so với giá gỗ nguyên liệu. Một số chủ rừng chưa đầu tư nâng cao chất lượng rừng trồng, còn có biểu hiện trông chờ vào các chính sách hỗ trợ của Nhà nước, nên diện tích trồng rừng gỗ lớn và diện tích chuyển hóa rừng gỗ nguyên liệu giấy sang kinh doanh gỗ lớn trên địa bàn huyện chưa đảm bảo đạt mục tiêu.

Việc phát triển rừng gỗ lớn cần nguồn lực lớn để hỗ trợ chủ rừng, nhưng do có vướng mắc trong quy định bảo đảm tiền vay của lĩnh vực ngân hàng khi thực hiện vay vốn tại ngân hàng nên còn hạn chế trong triển khai chính sách. Cụ thể, tại huyện Hàm Yên, UBND huyện đã phê duyệt diện tích 82ha, nhưng chủ rừng vay vốn phải có tài sản thế chấp giá trị trên 120% giá trị vay (không bao gồm giá trị cây đứng), nên một số chủ rừng không được giải ngân hoặc giải ngân số tiền thấp hơn so với nhu cầu.

Khuyến khích trồng rừng gỗ lớn, tỉnh Tuyên Quang cũng hỗ trợ cây giống chất lượng cao cho người trồng rừng. Ảnh: Đào Thanh.

Khuyến khích trồng rừng gỗ lớn, tỉnh Tuyên Quang cũng hỗ trợ cây giống chất lượng cao cho người trồng rừng. Ảnh: Đào Thanh.

Một khó khăn nữa là chỉ một số nhà máy chế biến, xuất khẩu gỗ cần rừng có chứng chỉ, tuy nhiên một số nhà máy, cơ sở chế biến không yêu cầu rừng có tiêu chuẩn, do đó khó giữ được rừng gỗ lớn. Cùng với đó, các hộ trồng khai thác bán rừng non và không thể có chế tài quản lý mà chỉ vận động tuyên truyền người dân gây khó khăn cho việc giữ rừng gỗ lớn, lâu năm để nâng cao chất lượng.

Trong khi đó, ở Việt Nam hiện nay nói chung và ở Tuyên Quang nói riêng người trồng rừng vẫn còn tư tưởng chứng chỉ FSC chỉ cần khi xuất khẩu còn tiêu thụ nội địa thì không cần cũng là rào cản nhất định cho sự phát triển. Vì người dân quan niệm, làm thủ tục cấp chứng chỉ mất tiền thuê chuyên gia đánh giá, khi bán trong nước chỉ bằng giá rừng không được cấp chứng chỉ hoặc cao hơn không đáng kể thì họ mất khoản tiền phát sinh.

Đồng hành cùng người dân

Dù có những khó khăn và rào cản nhất định trong công tác phát triển rừng gỗ lớn, rừng được cấp chứng chỉ FSC, tuy nhiên không thể phủ nhận những thành tựu to lớn mà ngành kinh tế lâm nghiệp đã đem lại cho tỉnh Tuyên Quang trong những năm qua. Đây là kết quả của chủ trương, nghị quyết sát với thực tiễn và nhu cầu nguyện vọng của người dân, đã giúp người dân thay đổi nhận thức và gắn bó với rừng.

Minh chứng rõ nét là kim ngạch xuất khẩu lâm sản của tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2017 - 2022, đạt 119 triệu USD; GRDP ngành lâm nghiệp của tỉnh năm 2022 đạt trên 1.750 tỷ đồng, chiếm trên 17% GRDP nông, lâm nghiệp, thủy sản; tăng trưởng bình quân đạt trên 10%/năm; giá trị sản phẩm chế biến gỗ chiếm 14% giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh. Rừng Tuyên Quang đang vươn mình mạnh mẽ. Từ những cánh rừng đặc dụng, rừng nguyên sinh đến cánh rừng sản xuất, đều phát triển. Rừng xanh ngày càng lấn núi, lấn đồi nhiều hơn.

Nhớ lại hơn 10 năm trước, nhắc đến rừng nhà nhà đều ngao ngán lắc đầu. Bởi người dân quan niệm trồng rừng sẽ không có cái ăn, trồng cây ngắn ngày chỉ nửa năm đến một năm sẽ cho thu hoạch. Vận động mãi nhiều hộ mới trồng rừng. Tuy nhiên hơn 10 năm nhìn lại, những hộ chịu khó khăn, vất vả gắn bó với rừng năm xưa giờ đây đều là những người nông dân khá giả. Họ vẫn là người nông dân bám đất bám đồi cuốc hố trồng rừng, nhưng rừng đã cho họ thu hoạch, có cuộc sống ấm no.

Sở hữu 50ha rừng, gia đình Phạm Đức Thắng, ở thôn Thái Sơn Tây là một trong những hộ trồng nhiều rừng nhất của xã Đại Phú, huyện Sơn Dương. Vụ trồng rừng năm nay là chu kỳ thứ 3 rừng của ông Thắng chuẩn bị cho thu hoạch. Ngày trước, những hộ dân ở thôn ông nhắc đến trồng rừng ai cũng lắc đầu vì trồng sắn, ngô vài tháng cho thu hoạch đã có tiền. Trồng rừng không bán được thì chỉ làm củi, mà củi thì trên rừng ở quê ông không thiếu. Nhưng ông vẫn quyết tâm trồng bởi cán bộ bảo trồng rừng sẽ được các nhà máy giấy thu mua kịp thời. Hơn nữa trên địa bàn tỉnh đã có chủ trương dự án xây dựng các nhà máy sản xuất chế biến gỗ nên chắc chắn trồng rừng sẽ có tương lai. 

Hiện nay, với 30ha rừng nhận trồng liên doanh với Công ty lâm nghiệp Sơn Dương, trừ các khoản chi phí ông Thắng còn lãi 50 triệu đồng/ha. Còn hơn 20ha rừng của gia đình đứng tên, chắc chắn số tiền lãi thu về sẽ gấp đôi. Ông Thắng cho biết, nhiều năm gắn bó với rừng, rừng cho gia đình ông cuộc sống ấm no, cũng cho ông nhiều kinh nghiệm trồng chăm sóc được tích lũy. Muốn rừng có chất lượng trước hết giống phải tốt. Khi triển khai trồng rừng, ông Thắng luôn chọn những cơ sở gieo ươm uy tín. Tuy đắt hơn giá thị trường như cây lớn nhanh và chậm phân cành. Toàn bộ 50ha rừng của gia đình ông Thắng đều được cấp chứng chỉ FSC và ông hướng phát triển thành rừng gỗ lớn, để rừng có thể xuất khẩu cho hiệu quả kinh tế cao hơn.

Từ rừng chất lượng cao là tiền đề cho các doanh nghiệp sản xuất chế biến gỗ phục vụ xuất khẩu. Ảnh: Đào Thanh.

Từ rừng chất lượng cao là tiền đề cho các doanh nghiệp sản xuất chế biến gỗ phục vụ xuất khẩu. Ảnh: Đào Thanh.

Đồng hành cùng người dân phát triển rừng gỗ lớn, rừng chất lượng cao, tỉnh Tuyên Quang đã xây dựng Nghị quyết số 36 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh năm 2021 đề ra mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2021 - 2030 phải bám sát các chủ trương, quan điểm, định hướng, mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội nói chung.

Theo đó, phát triển kinh tế nông lâm nghiệp, khai thác, sử dụng hiệu quả, hợp lý tài nguyên rừng, bảo vệ môi trường và thích ứng với biển đổi khí hậu nói riêng của Trung ương, của tỉnh, trọng tâm là các nhiệm vụ, giải pháp đã xác định trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII và Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Từ Nghị quyết này, ngành NN-PTNT tỉnh Tuyên Quang tham mưu cho HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết số 03, giai đoạn 2021 - 2025. Tại Nghị quyết này cũng ban hành nhiều chính sách trong đó có chính sách hỗ trợ chuyển rừng gỗ nhỏ sang gỗ lớn, nhằm hỗ trợ vùng nguyên liệu cho các nhà máy trong chế biến lâm sản, đặc biệt là về xuất khẩu sang những thị trường khó tính như Mỹ, Nhật và châu Âu. Trong đó thực hiện hỗ trợ 50% lãi suất tiền vay cho các tổ chức, cá nhân vay vốn để chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ sang gỗ lớn (kéo dài tuổi rừng lên trên 10 năm). Mỗi diện tích rừng thực hiện chuyển hoá, tổ chức, cá nhân được hỗ trợ lãi suất tiền vay 1 lần/đơn vị diện tích đó. Mức cho vay có hỗ trợ lãi suất tối đa 70 triệu đồng/ha; thời gian hỗ trợ lãi suất theo thời gian vay vốn nhưng tối đa không quá 36 tháng.

Qua hơn 2 năm triển khai thực hiện chủ trương này, nhiều địa phương đã triển khai thành công trong việc mở rộng diện tích trồng rừng gỗ lớn. Tổng diện tích phát triển rừng trồng gỗ lớn trên địa bàn toàn tỉnh đến hết năm 2022 là 76.652/76.000ha, đạt 100,8% kế hoạch. Ngành NN-PTNT đang phối hợp với các địa phương thực hiện rà soát thống kê diện tích; hỗ trợ chính sách về cây giống, chính sách vốn vay ưu đãi để chủ rừng yên tâm gắn bó lâu dài với quá trình tham gia trồng, bảo vệ, mở rộng và phát triển diện tích trồng rừng gỗ lớn.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l

Gỗ xá xị dùng trong phong thủy – Cách giữ mùi thơm lâu dài – hướng dẫn nhận biết

GỖ XÁ XỊ LÀ GÌ? Gỗ xá xị hay còn được gọi là gỗ gù hương, thuộc hàng gỗ cao cấp, đắt tiền thường được dân chơi gỗ tại Việt Nam săn tìm. Gỗ xá xị thường được sử dụng trong vật phong thủy giúp cho môi trường xung quanh thêm sang trọng và đẳng cấp. XEM:  https://phongthuygo.com/go-xa-xi-dung-trong-phong-thuy-cach-giu-mui-thom-lau-dai-huong-dan-nhan-biet/ Gỗ xá xị là loại cây sinh sống trong rừng sâu, có màu đỏ thẫm, đường vân gỗ tự nhiên uốn lượn xoáy sâu vào phần lõi tạo ra những đường xoắn ốc kỳ diệu. Hình dạng những khối gỗ cũng rất đa dạng nên ứng dụng được nhiều sản phẩm có giá trị cao. Gỗ xa xị đỏ đặc biệt hơn những loại gỗ khác bởi màu đỏ tươi cảm giác mang lại sự may mắn. Đây là lý do tại sao người ta lựa chọn loại gỗ này cho những sản phẩm tượng phong thủy đắt tiền. Tinh dầu gỗ xá xị còn giúp cải thiện tình trạng sức khỏe của con người, tinh thần sảng khoái, minh mẫn. Một số nơi sử dụng gỗ xá xị như một bài thuốc dân gian chữa bện phong hàn, bệnh tiêu hóa ở trẻ nhỏ, c

Tìm hiểu chi tiết về gỗ Trắc và ý nghĩa trong đời sống, phong thủy

GỖ TRẮC Gỗ trắc hay còn được gọi với cái tên khá Nam Bộ là gỗ Cẩm Lai, nó được coi là cây gỗ đặc trưng của vùng Đông Nam Á. Gỗ trắc sinh trưởng và phát triển tương đối chậm nên sản lượng gỗ không nhiều vì thế mà giá thành cũng khá cao không phải ai cũng sở hữu được. Cây gỗ trắc khá lớn, cây trưởng thành tới kỳ thu hoạch thường cao trung bình 25m. Thân cây to và chắc chắn với đường kính lên tới 1m. Là loại cây cổ thụ lâu năm nhưng vỏ cây gỗ trắc lại không bị sần sùi hay tróc vẩy mà ngược lại rất nhẵn và có màu nâu xám. Gỗ trắc ưa sáng nên những tán lá nhanh chóng vươn lên hứng nắng mặt trời, lá có màu xanh rêu nhạt. Họ nhà gỗ trắc không sinh sống thành một khu vực chung mà sống rải rác cách nhau một khoảng khá xa. Độ cao mà cây sinh sống không quá 500m, thích hợp với những vùng đồi núi Việt Nam. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-trac-va-y-nghia-trong-doi-song-phong-thuy/ Gỗ trắc là cây gỗ thuốc nhóm I trong nhóm gỗ quý của Việt Nam, phân bố chủ yếu ở vùng Đ

Tìm hiểu về “Tứ Thiết Mộc” bao gồm những loại gỗ nào

xem:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-ve-tu-thiet-moc-bao-gom-nhung-loai-go-nao/ “Tứ thiết mộc” hay còn gọi là 4 loại gỗ có bền chắc và độ cứng rất cao. 4 loại gỗ tứ thiết của Việt Nam bao gồm: đinh, lim, sến, táu. Đây đều là 4 loại gỗ quý thậm chí là rất quý trên thị trường có giá rất cao. Các loại gỗ này thường dùng trong việc chế tác những sản phẩm cao cấp, có độ bền với thời gian, đặc biệt là làm nhà gỗ bao gồm: đền thờ, nhà thờ tổ, chùa chiền… Tên gọi chung các loại gỗ quý rất cứng (ví như sắt). Đinh, lim, sến, táu là hạng thiết mộc. Dùng toàn thiết mộc để làm cột, kèo. Tìm hiểu chi tiết về 04 loại gỗ trên: Gỗ Đinh ,  Gỗ Lim ,  Gỗ Sến ,  gỗ táu