Chuyển đến nội dung chính

5 giải pháp để ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục phục hồi, động lực tăng trưởng kinh tế

 Theo Phó Vụ trưởng phụ trách Vụ Hệ thống Tài khoản quốc gia - Tổng cục Thống kê Nguyễn Thị Mai Hạnh, cần thực hiện 5 giải pháp để ngành ngành công nghiệp chế biến, chế tạo phục hồi, tiếp tục là động lực cho tăng trưởng kinh tế trong 6 tháng cuối năm.

5 giải pháp để ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục phục hồi, động lực tăng trưởng kinh tế - Ảnh 1.

Phó Vụ trưởng phụ trách Vụ Hệ thống Tài khoản quốc gia - Tổng cục Thống kê Nguyễn Thị Mai Hạnh.

Kinh tế vĩ mô tiếp tục được duy trì ổn định, lạm phát được kiểm soát, tăng trưởng kinh tế chuyển biến tích cực hơn

Tổng cục Thống kê vừa họp báo công bố số liệu kinh tế - xã hội quý II và 6 tháng năm 2023, có ý kiến cho rằng mức tăng trưởng 4,14% của Quý II/2023 là hơi lạc quan so với thực tế, xin Bà cho ý kiến về bình luận này?

Bà Nguyễn Thị Mai Hạnh: Trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới biến động phức tạp, không thuận lợi, tăng trưởng kinh tế chậm lại ở các nước đối tác thương mại lớn của Việt Nam, tuy nhiên, với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự chỉ đạo, điều hành kịp thời, quyết liệt, sát sao của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự nỗ lực của các cấp, các ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và người dân đã giúp kinh tế vĩ mô tiếp tục được duy trì ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm và tăng trưởng kinh tế chuyển biến tích cực hơn.

So với cùng kỳ, ước tính GDP quý II/2023 tăng 4,14%, cao hơn mức tăng 3,28% của số liệu sơ bộ quý I/2023. Tính chung 6 tháng đầu năm 2023, tốc độ tăng GDP của nước ta ước đạt 3,72%.

Tổng cục Thống kê ước tính số liệu GDP quý II và 6 tháng năm 2023 dựa vào nguồn thông tin, dữ liệu của các cuộc điều tra chọn mẫu hằng tháng, quý của các ngành, lĩnh vực; từ dữ liệu hành chính của các Bộ, ngành, địa phương và số liệu, báo cáo của các tập đoàn, tổng công ty. Dữ liệu vi mô đã cho thấy nhiều ngành, lĩnh vực trong quý II đã tốt lên so với quý I/2023.

Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam 6 tháng đầu năm ước tăng 3,72% so với cùng kỳ năm trước, chỉ cao hơn tốc độ tăng 1,74% của 6 tháng đầu năm 2020 trong giai đoạn 2011-2023 (trong đó sơ bộ quý I/2023 tăng 3,28%, ước tính quý II/2023 tăng 4,14%). Đây là mức tăng thấp hơn nhiều so với mục tiêu[1] đã đề ra.

Lý do, toàn ngành công nghiệp có tốc độ tăng giá trị tăng thêm chỉ đạt 0,44%. Trong đó, công nghiệp chế biến chế tạo các năm trước đây là động lực tăng trưởng kinh tế, nay chỉ đạt tốc độ khiêm tốn với giá trị tăng thêm 6 tháng ước tăng 0,37% do sản xuất hàng gia công (may mặc, da giày, điện tử, đồ gỗ… ) sụt giảm, thấp hơn nhiều so với cùng kỳ năm 2022 vì nhu cầu thị trường thế giới suy giảm, thiếu hụt đơn hàng.

Theo quý, tăng trưởng GDP quý II/2023 đạt 4,14% so với cùng kỳ, cao hơn 0,86 điểm phần trăm so với mức tăng 3,28% của quý I/2023. Trong đó, khu vực công nghiệp đã có chuyển biến tích cực, tạm thời chấm dứt đà tăng trưởng âm từ quý I/2023 (âm 0,75%), đạt mức tăng 1,56%; đáng chú ý là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với mức tăng 1,18% (quý I/2023 tăng trưởng âm 0,49%); ngành xây dựng cũng tăng mạnh với mức tăng 7,05%, cao hơn mức tăng 4,94% của cùng kỳ năm trước; điểm sáng nhất vẫn là khu vực dịch vụ với mức tăng 6,11%; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản cũng tăng trưởng khá tốt đạt 3,25% so với cùng kỳ.

5 giải pháp để ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục phục hồi, động lực tăng trưởng kinh tế - Ảnh 2.

Tăng trưởng kinh tế quý I, II và 6 tháng các năm 2011-2023 (%)

Trong khó khăn chung của kinh tế thế giới, tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong quý II/2023 không đạt như kỳ vọng, tuy nhiên mức tăng trưởng đã được cải thiện hơn so với quý I/2023 biểu hiện qua số liệu phản ánh kết quả hoạt động của các ngành, lĩnh vực như sau:

Một là, trong quý II/2023, tăng trưởng khu vực dịch vụ tiếp tục được phục hồi với mức tăng 6,11% so với cùng kỳ (quý I/2023 là 6,56%). Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 1,6% so với quý trước và tăng 8,7% so với cùng kỳ 2022. Khách quốc tế đến nước ta trong 6 tháng đầu năm ước đạt gần 5,6 triệu lượt người, gấp 9,3 lần cùng kỳ năm trước; số lượt người Việt Nam xuất cảnh đạt 2,4 triệu lượt người, gấp gần 4 lần cùng kỳ năm trước; số khách du lịch nội địa đạt 64 triệu lượt người, tăng 5,3% so cùng kỳ năm trước[2].

Hai là, sản xuất công nghiệp được cải thiện, mặc dù chưa đạt tốc độ tăng như kỳ vọng nhưng đây là tín hiệu tốt, điều này thể hiện qua đánh giá lạc quan của các doanh nghiệp ngành công nghiệp, chế biến chế tạo trong quý II/2023 với 27,5% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn so với quý I/2023; 36,7% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và 35,8% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn[3].

Ba là, hoạt động xuất khẩu quý II/2023 giảm 14,2% so với cùng kỳ năm trước nhưng tăng 2,9% so với quý I/2023. Sự sụt giảm này là do tình hình xuất, nhập khẩu còn nhiều khó khăn khi tình hình lạm phát tại các nước trên thế giới có xu hướng giảm nhưng vẫn ở mức cao, nhu cầu nhập khẩu giảm mạnh ở nhiều mặt hàng chủ lực của Việt Nam như may mặc, da giầy, điện tử, đồ gỗ… so với cùng kỳ nhưng vẫn tăng so với quý I/2023[4]. Đặc biệt một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam tuy giảm ở cả hai quý nhưng mức độ giảm ở quý II đã thấp hơn trong quý I.

5 giải pháp để ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục phục hồi, động lực tăng trưởng kinh tế - Ảnh 3.

Tăng trưởng một số mặt hàng tăng trưởng âm quý I, II năm 2023 (%)

Bốn là, tính thanh khoản của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam được đảm bảo. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã 4 lần điều chỉnh giảm lãi suất để doanh nghiệp và người dân tăng khả năng tiếp cận vốn, góp phần phục hồi sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng tín dụng quý II còn thấp, tăng 3,13% cho thấy khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế còn yếu, nhưng cải thiện hơn so với quý I/2023 (2,06%).

Năm là, tình hình đăng ký doanh nghiệp trong quý II/2023 cũng được cải thiện hơn, số doanh nghiệm đăng ký thành lập mới ở quý II, tăng 23% so với quý I. Đặc biệt số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường giảm từ bình quân một tháng có gần 20,1 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường trong quý I, còn 13,2 nghìn doanh nghiệp trong quý II. Điều này cho thấy niềm tin của doanh nghiệp đối với chính sách kinh tế vĩ mô và môi trường sản xuất kinh doanh của Việt Nam đã tăng lên.

Như vậy, tình hình kinh tế đất nước đang dần được cải thiện, biểu hiện qua nhiều chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất và tăng trưởng trong quý II đã tích cực hơn so với quý I. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng trong phân tích, đánh giá, nhất là khi so sánh tốc độ tăng trưởng GDP và một số chỉ tiêu liên quan giữa các quý trong cùng năm sẽ không có ý nghĩa khi các chỉ tiêu biểu hiện chưa được loại trừ yếu tố mùa vụ. Để đánh giá, so sánh mức độ tăng trưởng của các ngành, các lĩnh vực thường được so với cùng kỳ năm trước để loại bỏ yếu tố mùa vụ.

Tình hình sản xuất đã được cải thiện hơn

Cũng có ý kiến về ngành công nghiệp chế biến, chế tạo mặc dù xấu đi rất nhiều nhưng quý II/2023 lại tăng trưởng dương và cao hơn quý I/2023, xin Bà phân tích, làm rõ hơn về nội dung này?

Bà Nguyễn Thị Mai Hạnh: Trong giai đoạn 2011-2022, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo luôn đóng vai trò trụ đỡ, dẫn dắt tăng trưởng kinh tế, với mức tăng trung bình khoảng 8,9%, chiếm 24% và đóng góp hơn 2 điểm phần trăm trong tổng giá trị tăng thêm của nền kinh tế. Thậm chí trong thời kỳ COVID-19, giai đoạn 2020-2021, khi nền kinh tế suy giảm nhưng ngành công nghiệp chế biến chế tạo vẫn đạt mức tăng tưởng hơn 5,5%, đóng góp hơn 1,3 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung.

Từ quý IV/2022 do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, lạm phát các nước đã hạ nhiệt nhưng vẫn ở mức cao, chính sách tiền tệ thắt chặt, cầu tiêu dùng suy giảm, đặc biệt tăng trưởng kinh tế chậm lại ở các nước đối tác thương mại lớn của Việt Nam, như Hoa Kỳ và khu vực đồng Euro đã ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu các sản phẩm từ Việt Nam, đặc biệt với những sản phẩm thế mạnh xuất khẩu cho tiêu dùng của các nước như may mặc, đồ gỗ, sản phẩm điện tử, ….

5 giải pháp để ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục phục hồi, động lực tăng trưởng kinh tế - Ảnh 4.

Tăng trưởng ngành công nghiệp chế biến chế tạo quý I, II và 6 tháng các năm 2011-2023 (%)

Năm 2023, kinh tế thế giới tiếp tục gặp nhiều khó khăn với những biến động khó lường, lạm phát ở nhiều nước mặc dù hạ nhiệt những vẫn ở mức cao.

Ở trong nước, đơn hàng sản xuất giảm, kim ngạch xuất khẩu giảm; chỉ số PMI của Việt Nam tháng 6 tăng lên mức 46,2 điểm, cao hơn mức 45,3 điểm của tháng 5 nhưng vẫn nằm dưới 50 điểm ở tháng thứ tư liên tiếp.

Chỉ số sản xuất công nghiệp quý I/2023 giảm 2,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành chế biến, chế tạo (chiếm tới trên 75% giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp) giảm 2,9% so với cùng kỳ năm trước.

Sang quý II/2023, ngành công nghiệp có những chuyển biến tích cực hơn so với quý I/2023, tuy nhiên tăng trưởng vẫn đang ở mức thấp do những khó khăn, thách thức chung của thế giới ảnh hưởng đến xuất khẩu, thu hút đầu tư…, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là về dòng tiền, thị trường và đơn hàng.

Chỉ số sản xuất công nghiệp quý II/2023 tăng nhẹ 0,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm nhẹ 0,4%, giá trị tăng thêm ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 1,18%. Xu hướng tích cực công nghiệp chế biến, chế tạo quý II/2023 so với quý I/2023 thể hiện qua một số kết quả sau:

Một là, có 15/24 ngành công nghiệp cấp II thuộc công nghiệp chế biến, chế tạo sản xuất quý II/2023 có xu hướng tốt hơn quý I/2023, đặc biệt một số ngành có thế mạnh về xuất khẩu có chỉ số sản xuất và tăng trưởng tốt hơn: Ngành dệt, chỉ số sản xuất quý II/2023 tăng 2,9% (quý I giảm 7,4%) so với cùng kỳ 2022; Ngành sản xuất trang phục vẫn giảm nhưng tốc độ giảm chậm hơn, chỉ số sản suất quý II/2023 giảm 4,4% (quý I/2023 giảm 9,3%) so với cùng kỳ; Ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan, chỉ số sản xuất quý II/2023 giảm 1,9% (quý I/2023 giảm 3,1%) so với cùng kỳ; Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học, chỉ số sản xuất quý II giảm 3,5% (quý I/2023 giảm 5,4%) so với cùng kỳ; Sản xuất xe có động cơ, chỉ số sản xuất quý II giảm 4,8%% (quý I/2023 giảm 9,4%) so với cùng kỳ; Sản xuất phương tiện vận tải khác, chỉ số sản xuất quý II tăng hơn 5% (quý I/2023 giảm 11%) so với cùng kỳ. Thêm vào đó, ngành điện đã phản ánh rõ nét xu hướng sản xuất tích cực hơn của quý II/2023 khi chỉ số sản xuất so với cùng kỳ đạt mức tăng 4,1% trong khi quý I/2023 giảm 1,1% .

5 giải pháp để ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục phục hồi, động lực tăng trưởng kinh tế - Ảnh 5.

Chỉ số sản xuất của một số ngành công nghiệp quý I, II năm 2023 (%)

Hai là, số doanh nghiệp thực tế tham gia thị trường tăng mạnh ở quý II/2023 với bình quân một tháng có hơn 5,6 nghìn doanh nghiệp gia nhập thị trường, trong khi quý I/2023 giảm 1,1 nghìn doanh nghiệp.

Ba là, trong quý II/2023, xuất khẩu một số mặt hàng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chủ lực cũng có xu hướng tốt lên so với quý I/2023: Gỗ và sản phẩm gỗ quý II/2023 tăng 13,6% so quý I/2023; Hàng dệt, may tăng 19,6%; Giày dép, tăng 31%; Điện tử, máy tính và linh kiện tăng 9,5%; Máy ảnh, máy quay phim và linh kiện tăng 12,8%.

Bốn là, chỉ số tiêu thụ và tỷ lệ tồn ngành công nghiệp chế biến chế tạo cũng được cải thiện hơn trong quý II/2023: Chỉ số tiêu thụ quý I/2023 ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 2,9% so với cùng kỳ nhưng sáu tháng chỉ giảm 2,2%; Tỷ lệ tồn kho tại thời điểm 31/3/2023 là 81% nhưng tại thời điểm 30/6/2022 là 83,1%.

Năm là, các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến chế tạo nhận định tình hình sản xuất kinh doanh khả quan hơn trong quý II/2023, với 27,5% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn so với quý I/2023; 36,7% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và 35,8% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn (nhận định này của quý I/2023 lần lượt là 24,3% số doanh nghiệp đánh giá tốt hơn quý trước; 37,2% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và 38,5% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn).

Về khối lượng sản xuất, có 28,9% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất của doanh nghiệp quý II/2023 tăng so với quý I/2023; 36,2% số doanh nghiệp cho rằng ổn định và 34,9% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất giảm[5].

Về đơn đặt hàng, có 24,9% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng quý II/2023 cao hơn quý I/2023; 38,9% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng ổn định và 36,2% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng giảm[6].

Về đơn đặt hàng xuất khẩu, quý II/2023 so với quý I/2023, có 18,5% số doanh nghiệp khẳng định số đơn hàng xuất khẩu mới cao hơn; 43,2% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu mới ổn định và 38,3% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu mới giảm. Trong khi chỉ số này được các doanh nghiệp nhận định tại quý I lần lượt là 16,9% tăng, 43% ổn định và 40,1% giảm.

Nhìn chung trong những tháng đầu năm 2023, tình hình kinh tế thế giới tiếp tục gặp nhiều khó khăn, biến động khó lường, lạm phát các nước mặc dù hạ nhiệt những vẫn ở mức cao; trong nước đơn hàng sản xuất giảm, chi phí đầu vào tăng cao, kim ngạch xuất khẩu giảm đã ảnh hưởng đến sản xuất công nghiệp, đặc biệt ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với tăng trưởng giảm 0,49% trong quý I/2023 nhưng sang quý II/2023 tình hình sản xuất đã được cải thiện hơn với mức tăng trưởng đạt 1,18% so với cùng kỳ.

5 giải pháp để ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục phục hồi, động lực tăng trưởng

Để ngành công nghiệp chế biến, chế tạo phục hồi, tiếp tục là động lực tăng trưởng trong các tháng cuối năm, theo Bà cần có những giải pháp gì?

Bà Nguyễn Thị Mai Hạnh: Để ngành ngành công nghiệp chế biến, chế tạo phục hồi, tiếp tục là động lực cho tăng trưởng kinh tế trong 6 tháng cuối năm, một số giải pháp cần thực hiện để tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp:

Thứ nhất, cần duy trì, ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, tạo niềm tin cho người dân, doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh; điều hành tín dụng tập trung vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh tạo động lực tăng trưởng; điều hành tỷ giá phù hợp, tăng cường năng lực thích ứng, chống chịu và an toàn của hệ thống tài chính, ngân hàng; khơi thông dòng vốn và thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, tạo nguồn vốn cho doanh nghiệp khắc phục khó khăn và đẩy mạnh hoạt động sản xuất, kinh doanh;

Thứ hai, đẩy mạnh sản xuất, tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nhất là các mặt hàng sử dụng nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào nội địa để hạn chế nhập khẩu và chủ động nguồn cung. Thường xuyên rà soát để kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc; hỗ trợ hiệu quả các doanh nghiệp thiếu vốn, giá nguyên liệu đầu vào tăng cao, khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm...

Thứ ba, hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm đối tác tiêu thụ sản phẩm hiệu quả; tận dụng môi trường thương mại số đã được hình thành trong thời gian qua, tích cực triển khai đồng bộ và hoàn thiện hệ thống lưu thông giữa các nhà sản xuất, thương mại và tiêu dùng nhằm đẩy nhanh hoạt động tiêu thụ cũng như kiểm soát tốt hoạt động kinh tế.

Thứ tư, đảm bảo nguồn điện ổn định, đáp ứng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hộ cá thể và nhu cầu tiêu dùng của dân cư trong mùa cao điểm nắng nóng.

Thứ năm, các đơn vị sản xuất, kinh doanh cần bám sát thị trường mở rộng hoạt động tìm kiếm khách hàng mới; tăng cường kết nối chuỗi sản xuất - tiêu thụ; cân đối lượng tồn kho và tiêu thụ để bảo đảm dòng tiền cũng như chất lượng sản phẩm, bố trí sản xuất linh hoạt để duy trì hoạt động sản xuất tối ưu.

Cảm ơn bà!


[1] Thấp hơn 2,48 điểm % so với mục tiêu 6,2% của 6 tháng đầu năm 2023 theo Nghị quyết 01/NQ-CP.

[3] Chỉ số tương ứng của quý I/2023: Có 24,3% số doanh nghiệp đánh giá tốt hơn quý trước; 37,2% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và 38,5% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn.

[4] Tốc độ tăng giá trị xuất khẩu các mặt hàng quý II/2023 so với quý I/2023: May mặc tăng 19,6%; da giầy tăng 31%; đồ gỗ tăng 13,6%; điện tử tăng 9,5%.

[5] Chỉ số tương ứng của quý I/2023: Có 24,9% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất tăng so với quý IV/2022; 35,7% số doanh nghiệp cho rằng ổn định và 39,4% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất giảm.

[6] Chỉ số tương ứng của quý I/2023: Có 22,1% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng cao hơn quý IV/2022; 38,2% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng ổn định và 39,7% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng giảm.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l

Gỗ xá xị dùng trong phong thủy – Cách giữ mùi thơm lâu dài – hướng dẫn nhận biết

GỖ XÁ XỊ LÀ GÌ? Gỗ xá xị hay còn được gọi là gỗ gù hương, thuộc hàng gỗ cao cấp, đắt tiền thường được dân chơi gỗ tại Việt Nam săn tìm. Gỗ xá xị thường được sử dụng trong vật phong thủy giúp cho môi trường xung quanh thêm sang trọng và đẳng cấp. XEM:  https://phongthuygo.com/go-xa-xi-dung-trong-phong-thuy-cach-giu-mui-thom-lau-dai-huong-dan-nhan-biet/ Gỗ xá xị là loại cây sinh sống trong rừng sâu, có màu đỏ thẫm, đường vân gỗ tự nhiên uốn lượn xoáy sâu vào phần lõi tạo ra những đường xoắn ốc kỳ diệu. Hình dạng những khối gỗ cũng rất đa dạng nên ứng dụng được nhiều sản phẩm có giá trị cao. Gỗ xa xị đỏ đặc biệt hơn những loại gỗ khác bởi màu đỏ tươi cảm giác mang lại sự may mắn. Đây là lý do tại sao người ta lựa chọn loại gỗ này cho những sản phẩm tượng phong thủy đắt tiền. Tinh dầu gỗ xá xị còn giúp cải thiện tình trạng sức khỏe của con người, tinh thần sảng khoái, minh mẫn. Một số nơi sử dụng gỗ xá xị như một bài thuốc dân gian chữa bện phong hàn, bệnh tiêu hóa ở trẻ nhỏ, c

Tìm hiểu chi tiết về gỗ Trắc và ý nghĩa trong đời sống, phong thủy

GỖ TRẮC Gỗ trắc hay còn được gọi với cái tên khá Nam Bộ là gỗ Cẩm Lai, nó được coi là cây gỗ đặc trưng của vùng Đông Nam Á. Gỗ trắc sinh trưởng và phát triển tương đối chậm nên sản lượng gỗ không nhiều vì thế mà giá thành cũng khá cao không phải ai cũng sở hữu được. Cây gỗ trắc khá lớn, cây trưởng thành tới kỳ thu hoạch thường cao trung bình 25m. Thân cây to và chắc chắn với đường kính lên tới 1m. Là loại cây cổ thụ lâu năm nhưng vỏ cây gỗ trắc lại không bị sần sùi hay tróc vẩy mà ngược lại rất nhẵn và có màu nâu xám. Gỗ trắc ưa sáng nên những tán lá nhanh chóng vươn lên hứng nắng mặt trời, lá có màu xanh rêu nhạt. Họ nhà gỗ trắc không sinh sống thành một khu vực chung mà sống rải rác cách nhau một khoảng khá xa. Độ cao mà cây sinh sống không quá 500m, thích hợp với những vùng đồi núi Việt Nam. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-trac-va-y-nghia-trong-doi-song-phong-thuy/ Gỗ trắc là cây gỗ thuốc nhóm I trong nhóm gỗ quý của Việt Nam, phân bố chủ yếu ở vùng Đ

Tìm hiểu về “Tứ Thiết Mộc” bao gồm những loại gỗ nào

xem:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-ve-tu-thiet-moc-bao-gom-nhung-loai-go-nao/ “Tứ thiết mộc” hay còn gọi là 4 loại gỗ có bền chắc và độ cứng rất cao. 4 loại gỗ tứ thiết của Việt Nam bao gồm: đinh, lim, sến, táu. Đây đều là 4 loại gỗ quý thậm chí là rất quý trên thị trường có giá rất cao. Các loại gỗ này thường dùng trong việc chế tác những sản phẩm cao cấp, có độ bền với thời gian, đặc biệt là làm nhà gỗ bao gồm: đền thờ, nhà thờ tổ, chùa chiền… Tên gọi chung các loại gỗ quý rất cứng (ví như sắt). Đinh, lim, sến, táu là hạng thiết mộc. Dùng toàn thiết mộc để làm cột, kèo. Tìm hiểu chi tiết về 04 loại gỗ trên: Gỗ Đinh ,  Gỗ Lim ,  Gỗ Sến ,  gỗ táu