Chuyển đến nội dung chính

Như Thanh (Thanh Hóa): Trồng rừng gỗ lớn bảo vệ sinh thái, giảm nghèo bền vững

 Như Thanh là địa phương có diện tích rừng và đất lâm nghiệp chiếm tỉ lệ lớn, có đầy đủ điều kiện tự nhiên và nguồn lực con người để phát triển ngành lâm nghiệp. Những năm gần đây, huyện đã phát huy thế mạnh trồng rừng gỗ lớn từng bước mang lại lợi ích kinh tế cao và góp phần nâng cao đời sống cho các hộ gia đình, giảm nghèo bền vững.

Ngành Lâm Nghiệp có vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng hệ thống sinh học, cung cấp lâm sản, góp phần xóa đói giảm nghèo, đặc biệt cho người dân miền núi.

Huyện Như Thanh có địa hình đồi núi thấp, lớp đất mặt dầy, thuận lợi cho phát triển rừng trồng gỗ lớn. Năm 2016 qua khảo sát, toàn huyện có diện tích rừng trồng gỗ thuộc rừng sản xuất là 13.445,8 ha, trong đó có hơn 300 ha rừng trồng gỗ lớn, chiếm tỷ lệ rất ít trong rừng trồng gỗ. Cây trồng chủ yếu là Keo, Xoan ta; rừng được trồng theo phương thức quảng canh là chính, thời gian từ lúc trồng đến lúc khai thác ngắn (5-6 năm). Vì vậy năng xuất, chất lượng cây trồng/ ha đất lâm nghiệp rất thấp; rừng tự nhiên nghèo về trữ lượng, chủ yếu là các cây gỗ tái sinh và cây bụi. Nhiều loài cây gỗ quý hiếm như Lim xanh, trước đây có diện tích, trữ lượng lớn, mọc tập trung thì hiện nay chỉ còn lại rất ít, chủ yếu là cây tái sinh.

Trong phát triển kinh tế lâm nghiệp của huyện Như Thanh chưa có bước đột phá; rừng trồng tuy có tăng về diện tích, nhưng năng xuất, chất lượng cây trồng chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của tự nhiên đem lại, huyện chưa có chiến lược phát triển diện tích rừng trồng gỗ lớn. Bên cạnh đó, nhân dân chưa hưởng ứng và áp dụng các biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh để tăng năng xuất, chu kỳ kinh doanh, khai thác rừng trồng ngắn; các sản phẩm lâm sản sau khai thác, chế biến chủ yếu vẫn ở dạng thô, chưa có các sản phẩm dạng tinh. Vì vậy giá trị rừng trồng trên một đơn vị diện tích chưa được nâng cao.

Loài cây gỗ quý hiếm (Lim Xanh) trong rừng tự nhiên của huyện Như Thanh bị khai thác cạn kiệt; công tác quy hoạch, khoanh nuôi, phục tráng rừng Lim xanh tái sinh chưa được quan tâm đúng mức.

anh-1.jpg
Trồng rừng gỗ lớn bảo vệ sinh thái, giảm nghèo bền vững ở huyện Như Thanh

Để đưa kinh tế lâm nghiệp có bước phát triển đột phá, nâng cao sản lượng, giá trị rừng trồng; để bảo tồn nguồn gen quý hiếm, phục vụ cho nghiên cứu khoa học, du lịch sinh thái; để thúc đẩy xã hội hóa nghề rừng, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho kinh tế hộ gia đình, góp phần xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường sinh thái, việc xây dựng đề án phát triển rừng trồng gỗ lớn, khoanh nuôi, phục tráng rừng Lim xanh tái sinh là rất cần thiết.

Năm 2016, huyện Như Thanh đã xây dựng Đề án “Phát triển rừng trồng gỗ lớn; Khoanh nuôi, phục tráng rừng Lim xanh tái sinh Huyện Như Thanh giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2030”. Từ đó tới nay, hằng năm ngành Lâm Nghiệp đóng góp rất lớn trong ổn định kinh tế hộ gia đình, tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học.

Tính từ năm 2017 đến nay, huyện Như Thanh đã triển khai dự án xây dựng mô hình trồng rừng thâm canh gỗ lớn và chuyển hóa rừng cung cấp gỗ nhỏ sang gỗ lớn. Cụ thể, trên cơ sở việc điều tra, khảo sát thực địa để xác định địa danh, chủ rừng có diện tích rừng trồng gỗ nhỏ, vận động tuyên truyền hộ gia đình đăng ký chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ thành rừng trồng gỗ lớn; sau 5 năm thực hiện toàn huyện đã hình thành và phát triển ổn định 4.231 ha rừng trồng gỗ lớn; bảo vệ, khoanh nuôi, phục tráng được 92,9ha/60ha, đạt 154,83% kế hoạch.

Đề án được triển khai và thực hiện đã làm thay đổi cơ bản về ý thức, nhận thức của cán bộ Đảng viên, chủ rừng, nhân dân đặc biệt là nhận thức của những gia đình có đất lâm nghiệp về hiệu quả, giá trị kinh doanh lâm nghiệp khi trồng và chuyển hóa rừng gỗ nhỏ thành rừng gỗ lớn. Vì vậy nhiều hộ gia đình, chủ rừng đã đăng ký và thực hiện trồng rừng gỗ lớn; đầu tư kinh phí, nhân lực để thực hiện. Nhiều hộ gia đình tự nguyện đăng ký tham gia khoanh nuôi, bảo vệ, xúc tiến tái sinh đối với diện tích có cây Lim. Năng suất, giá trị rừng trồng gỗ lớn đã khai thác nâng gấp 2-3 lần so với trước đây.

anh-2.jpg
Ông Lê Mai Lô, thôn Đồng Yên, xã Mậu Lâm tham gia trồng rừng gỗ lớn mang lại hiệu quả kinh tế cao

Gia đình ông Lê Mai Lô, thôn Đồng Yên, xã Mậu Lâm, đã tham gia chuyển hóa rừng gỗ nhỏ thành gỗ lớn theo đề án của huyện từ năm 2017 tới nay. Ông Lô cho biết: Năm 2017 gia đình tôi được chính quyền xã và huyện vận động tham gia đăng ký chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ thành gỗ lớn. Ban đầu, gia đình tôi chỉ đăng ký 10ha, chủ yếu là trồng keo. Trước đây chỉ khoảng 5 năm đã thu hoạch, giá trị kinh tế thấp vì chỉ bán làm keo băm. Sau khi được tuyên truyền gia đình tôi đã trồng thưa, chăm sóc cẩn thận hơn, để cây có thể sinh trưởng phát triển tối ưu nhất. Tới nay nhiều cây keo đã có đường kính tới một người ôm, giá trị kinh tế cao hơn nhiều lần. Hiện, 30ha đất của gia đình chủ yếu trồng keo đã có thời gian 6-7 năm.

Theo ông Lô, việc thu hoạch sớm giá trị kinh tế rất thấp, nếu cũng cây keo nhưng trồng từ 8-10 năm giá trị kinh tế sẽ cao hơn nhiều. Nhờ việc thay đổi nhận thức trong canh tác, trồng rừng gia đình ông tự tin sẽ có nguồn thu nhập ổn định và lớn trong những năm tiếp theo.

Ông Lương Hồng Sỹ - Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Như Thanh cho biết: Việc chuyển đổi từ rừng gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn đã mang lại giá trị kinh tế cao hơn nhiều lần. Nhất là việc trồng rừng gỗ lớn chi phí thấp hơn so với trồng rừng gỗ nhỏ, do giai đoạn về sau chủ yếu là bảo vệ rừng thay vì trồng lại rừng. Từ đó, mang lại lợi ích lớn trong phát triển kinh tế, góp phần bảo vệ môi trường, sinh thái, đặc biệt khi mùa mưa đến sẽ làm giảm xói mòn, rửa trôi đất, phòng chống lũ lụt.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l

Gỗ xá xị dùng trong phong thủy – Cách giữ mùi thơm lâu dài – hướng dẫn nhận biết

GỖ XÁ XỊ LÀ GÌ? Gỗ xá xị hay còn được gọi là gỗ gù hương, thuộc hàng gỗ cao cấp, đắt tiền thường được dân chơi gỗ tại Việt Nam săn tìm. Gỗ xá xị thường được sử dụng trong vật phong thủy giúp cho môi trường xung quanh thêm sang trọng và đẳng cấp. XEM:  https://phongthuygo.com/go-xa-xi-dung-trong-phong-thuy-cach-giu-mui-thom-lau-dai-huong-dan-nhan-biet/ Gỗ xá xị là loại cây sinh sống trong rừng sâu, có màu đỏ thẫm, đường vân gỗ tự nhiên uốn lượn xoáy sâu vào phần lõi tạo ra những đường xoắn ốc kỳ diệu. Hình dạng những khối gỗ cũng rất đa dạng nên ứng dụng được nhiều sản phẩm có giá trị cao. Gỗ xa xị đỏ đặc biệt hơn những loại gỗ khác bởi màu đỏ tươi cảm giác mang lại sự may mắn. Đây là lý do tại sao người ta lựa chọn loại gỗ này cho những sản phẩm tượng phong thủy đắt tiền. Tinh dầu gỗ xá xị còn giúp cải thiện tình trạng sức khỏe của con người, tinh thần sảng khoái, minh mẫn. Một số nơi sử dụng gỗ xá xị như một bài thuốc dân gian chữa bện phong hàn, bệnh tiêu hóa ở trẻ nhỏ, c

Tìm hiểu chi tiết về gỗ Trắc và ý nghĩa trong đời sống, phong thủy

GỖ TRẮC Gỗ trắc hay còn được gọi với cái tên khá Nam Bộ là gỗ Cẩm Lai, nó được coi là cây gỗ đặc trưng của vùng Đông Nam Á. Gỗ trắc sinh trưởng và phát triển tương đối chậm nên sản lượng gỗ không nhiều vì thế mà giá thành cũng khá cao không phải ai cũng sở hữu được. Cây gỗ trắc khá lớn, cây trưởng thành tới kỳ thu hoạch thường cao trung bình 25m. Thân cây to và chắc chắn với đường kính lên tới 1m. Là loại cây cổ thụ lâu năm nhưng vỏ cây gỗ trắc lại không bị sần sùi hay tróc vẩy mà ngược lại rất nhẵn và có màu nâu xám. Gỗ trắc ưa sáng nên những tán lá nhanh chóng vươn lên hứng nắng mặt trời, lá có màu xanh rêu nhạt. Họ nhà gỗ trắc không sinh sống thành một khu vực chung mà sống rải rác cách nhau một khoảng khá xa. Độ cao mà cây sinh sống không quá 500m, thích hợp với những vùng đồi núi Việt Nam. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-trac-va-y-nghia-trong-doi-song-phong-thuy/ Gỗ trắc là cây gỗ thuốc nhóm I trong nhóm gỗ quý của Việt Nam, phân bố chủ yếu ở vùng Đ

Tìm hiểu về “Tứ Thiết Mộc” bao gồm những loại gỗ nào

xem:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-ve-tu-thiet-moc-bao-gom-nhung-loai-go-nao/ “Tứ thiết mộc” hay còn gọi là 4 loại gỗ có bền chắc và độ cứng rất cao. 4 loại gỗ tứ thiết của Việt Nam bao gồm: đinh, lim, sến, táu. Đây đều là 4 loại gỗ quý thậm chí là rất quý trên thị trường có giá rất cao. Các loại gỗ này thường dùng trong việc chế tác những sản phẩm cao cấp, có độ bền với thời gian, đặc biệt là làm nhà gỗ bao gồm: đền thờ, nhà thờ tổ, chùa chiền… Tên gọi chung các loại gỗ quý rất cứng (ví như sắt). Đinh, lim, sến, táu là hạng thiết mộc. Dùng toàn thiết mộc để làm cột, kèo. Tìm hiểu chi tiết về 04 loại gỗ trên: Gỗ Đinh ,  Gỗ Lim ,  Gỗ Sến ,  gỗ táu