Chuyển đến nội dung chính

Lịch sử tồn tại của thẻ gỗ Ema – tấm bảng ghi điều ước nguyện

 Vào mùa thi cử khoảng tháng 2 hàng năm, các đền chùa trên khắp nước Nhật trở nên đông đúc bởi các sĩ tử đến cầu mong kỳ thi thuận lợi và treo lên những thẻ gỗ cầu mong đỗ đạt. Ngoài ra, mọi người còn dùng thẻ gỗ này để cầu mong hạnh phúc hôn nhân, sức khỏe, kinh doanh thuận lợi. Phong tục treo ước nguyện ăn sâu vào tiềm thức của người dân Nhật Bản. Tuy nhiên, chắc hẳn ít người biết về lịch sử của thẻ gỗ Ema. Hãy cùng LocoBee tìm hiểu qua bài viết này nhé!

 

Ngựa từng là lễ vật cho các vị thần

thẻ gỗ Ema

Người Nhật coi ngựa là động vật linh thiêng vì chúng là “phương tiện di chuyển của các vị thần”. Từ quan niệm đó, xa xưa người ta từng dâng ngựa cho các đền thờ. Những ngôi đền lớn đều có chuồng ngựa, các vị thần được cho là cưỡi trên những con ngựa này khi họ di chuyển (chuồng ngựa vẫn còn tồn tại trong một số đền thờ ngày nay). Chỉ những người địa vị cao có điều kiện nuôi hoặc mua ngựa sống mới có thể thờ cúng chúng. Vì lý do này, mọi người bắt đầu lễ những con ngựa “Uma-gata” làm bằng đất sét, gỗ, rơm. Đồng thời cũng để đơn giản hóa, họ khắc hình ngựa lên trên tấm gỗ. Đây là nguồn gốc của thẻ gỗ Ema.

Tài liệu đầu tiên ghi lại về thẻ gỗ Ema là tập thơ Trung Quốc thời Heian “Honcho Monzui”. Trong bài viết năm 1012 (Kanko 9) có nhắc đến “Ema giấy ba màu.” Hơn nữa, có vẻ như đã có một phong tục cung hiến các thẻ gỗ Ema từ thế kỷ thứ 8. Năm 1972, một Ema từ thời Nara (710-794) đã được khai quật tại Iba thuộc thành phố Hamamatsu, tỉnh Shizuoka. Vào năm 2013, trong quá trình khai quật tàn tích Shikada ở thành phố Okayama, một tấm bảng mô tả một con ngựa, được cho là cùng thời kỳ, cũng đã được khai quật. Ema tìm được tại Iba dài khoảng 9 cm và rộng khoảng 7 cm, còn tại Shikata dài khoảng 23 cm và rộng 12 cm. Có thể nói nó là nguyên mẫu của Ema mà chúng ta thường thấy ngày nay.

 

Thời Muromachi, họa tiết trên thẻ Ema được vẽ đa dạng hơn

thẻ gỗ Ema

Theo “Mono to Ningen no Bunka Shishi 12 Ema” (Hiromi Iwai/Nhà xuất bản Đại học Hosei), ban đầu Ema là đồ vật chỉ dành riêng cho các đền thờ, nhưng vào đầu thời Muromachi, nó cũng bắt đầu lan sang các chùa. Các họa tiết được vẽ vào giữa thời Muromachi cũng rất đa dạng.

Ví dụ, thẻ Ema năm 1436 (Eikyo 8), được lưu truyền tại đền Hakusan ở quận Koga, tỉnh Shiga, mô tả 36 nhà thơ vĩ đại và viết những bài thơ tuyệt vời của các nhà thơ đó lên trên thẻ. “Yuraku Ema dành cho nữ Hanaguruma” được sản xuất vào năm 1459 (Nagaroku 3) được lưu truyền tại Đền Oujinushi ở thành phố Nanao, tỉnh Ishikawa thể hiện lời chúc dành cho vẻ đẹp của phụ nữ, và cầu mong sự bình an trong thời kỳ chiến sự.

Vào thời Chiến Quốc, trên thẻ Ema vẽ hình của Monju Bosatsu (Văn Thù Bồ Tát, đại diện cho trí tuệ) năm 1521, thẻ được phát hiện tại Đền Kofuku-ji ở Nara. Người ta cũng tìm thấy 1 số thẻ Ema vẽ hình ngài Benkei và ngài Ushiwakamaru năm 1552 tại Đền Itsukushima ở Hiroshima (lời thề chủ tớ và lời cầu nguyện chiến thắng). Như vậy, có thể thấy rằng, những biến thể tranh được vẽ lên trên thẻ Ema ngày càng đa dạng và diễn tả các câu chuyện lịch sử khác nhau.

 

Thời gian trôi qua, mong muốn của mọi người đa dạng hơn và được thể hiện trên thẻ Ema

thẻ gỗ Ema

Trong thời Minh Trị, thẻ Ema được bày bán quanh năm. Kích thước của các thẻ Ema cũng đa dạng hơn. Các địa điểm treo thẻ Ema được xây dựng tại các đền thờ và có những tấm biển lớn được treo phía trên lối vào. Đây được gọi là bảng treo thẻ Ema.
Đặc biệt, trong thời kỳ Azuchi-Momoyama (khoảng 1568-1600), khi có nhiều đồ trang sức lấp lánh, rất nhiều loại thẻ Ema lớn và cao cấp đã được sản xuất. Các thẻ này trở thành lễ vật tế thần của các samurai cấp cao.

Loại hình văn hóa Ema này phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ Edo, khi những nghệ nhân chuyên vẽ tranh được gọi là ‘Ema-shi’ xuất hiện. Như một sự hiện diện không thể thiếu trong tín ngưỡng dân gian, nó càng được đông đảo quần chúng biết đến và yêu thích. Ema làm cho Hatsuuma bán chạy như tôm tươi, và mức độ nổi tiếng của chúng không hề giảm kể cả trong thời Minh Trị. Sự thay đổi xuất hiện vào giữa thời Minh Trị. Năm 1892 (Meiji 25), Yomiuri Shimbun viết rằng có đến 300 thẻ Ema của Đền Suitengu đã được bán chỉ trong 1 ngày, ngôi đền này được biết đến là nơi thờ vị thần sinh sản và là nơi cầu nguyện sinh con an toàn. Cũng có nhiều loại Ema được bán quanh năm.

thẻ gỗ Ema

Trong Chiến tranh Trung-Nhật, Chiến tranh Nga-Nhật, Thế chiến thứ nhất và Thế chiến thứ hai, thẻ Ema được tạo ra để mong muốn chiến thắng và may mắn trong chiến tranh. Sau chiến tranh, có tục mai mối để gặp được người xứng đôi vừa lứa, cầu tài lộc để mong có một cuộc sống ổn định. Hàng năm, số lượng các đền chùa bán thẻ Ema, đồng thời thay đổi màu sơn để phù hợp với cung hoàng đạo Trung Quốc trong chuyến viếng thăm năm mới ngày càng tăng. Vào những năm 1960, thế hệ trẻ đầu tiên bước vào cuộc chiến thi vào cấp 3 và đại học. Từ đó bùng nổ phong tục dâng Ema tại các ngôi đền linh thiêng để cầu nguyện cho các kỳ thi được suôn sẻ, và kể từ đó Ema đã trở thành một truyền thống của mùa thi.

Có lẽ, rất ít người dân Nhật Bản chưa từng viết điều ước lên trên thẻ Ema. Người Nhật có câu: “Khi bạn gặp khó khăn, hãy dựa vào các vị thần”, điều này thể hiện tín ngưỡng thần đạo đã ăn sâu vào trong tiềm thức của họ.

Tấm gỗ viết điều ước Ema hình lá đỏ

 

Hi vọng bài viết mang lại cho bạn những thông tin mà bạn đang tìm kiếm. Nếu bạn muốn biết thêm các thông tin khác, hãy gửi bình luận xuống dưới bài viết này để ban biên tập của LocoBee chuẩn bị các bài viết trả lời cho vấn đề mà bạn quan tâm nhé.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l

Gỗ xá xị dùng trong phong thủy – Cách giữ mùi thơm lâu dài – hướng dẫn nhận biết

GỖ XÁ XỊ LÀ GÌ? Gỗ xá xị hay còn được gọi là gỗ gù hương, thuộc hàng gỗ cao cấp, đắt tiền thường được dân chơi gỗ tại Việt Nam săn tìm. Gỗ xá xị thường được sử dụng trong vật phong thủy giúp cho môi trường xung quanh thêm sang trọng và đẳng cấp. XEM:  https://phongthuygo.com/go-xa-xi-dung-trong-phong-thuy-cach-giu-mui-thom-lau-dai-huong-dan-nhan-biet/ Gỗ xá xị là loại cây sinh sống trong rừng sâu, có màu đỏ thẫm, đường vân gỗ tự nhiên uốn lượn xoáy sâu vào phần lõi tạo ra những đường xoắn ốc kỳ diệu. Hình dạng những khối gỗ cũng rất đa dạng nên ứng dụng được nhiều sản phẩm có giá trị cao. Gỗ xa xị đỏ đặc biệt hơn những loại gỗ khác bởi màu đỏ tươi cảm giác mang lại sự may mắn. Đây là lý do tại sao người ta lựa chọn loại gỗ này cho những sản phẩm tượng phong thủy đắt tiền. Tinh dầu gỗ xá xị còn giúp cải thiện tình trạng sức khỏe của con người, tinh thần sảng khoái, minh mẫn. Một số nơi sử dụng gỗ xá xị như một bài thuốc dân gian chữa bện phong hàn, bệnh tiêu hóa ở trẻ nhỏ, c

Tìm hiểu chi tiết về gỗ Trắc và ý nghĩa trong đời sống, phong thủy

GỖ TRẮC Gỗ trắc hay còn được gọi với cái tên khá Nam Bộ là gỗ Cẩm Lai, nó được coi là cây gỗ đặc trưng của vùng Đông Nam Á. Gỗ trắc sinh trưởng và phát triển tương đối chậm nên sản lượng gỗ không nhiều vì thế mà giá thành cũng khá cao không phải ai cũng sở hữu được. Cây gỗ trắc khá lớn, cây trưởng thành tới kỳ thu hoạch thường cao trung bình 25m. Thân cây to và chắc chắn với đường kính lên tới 1m. Là loại cây cổ thụ lâu năm nhưng vỏ cây gỗ trắc lại không bị sần sùi hay tróc vẩy mà ngược lại rất nhẵn và có màu nâu xám. Gỗ trắc ưa sáng nên những tán lá nhanh chóng vươn lên hứng nắng mặt trời, lá có màu xanh rêu nhạt. Họ nhà gỗ trắc không sinh sống thành một khu vực chung mà sống rải rác cách nhau một khoảng khá xa. Độ cao mà cây sinh sống không quá 500m, thích hợp với những vùng đồi núi Việt Nam. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-trac-va-y-nghia-trong-doi-song-phong-thuy/ Gỗ trắc là cây gỗ thuốc nhóm I trong nhóm gỗ quý của Việt Nam, phân bố chủ yếu ở vùng Đ

Tìm hiểu về Gỗ trinh nam Trung Quốc – giá trị kinh tế cao

Cây Trinh nam (danh pháp khoa học: Phoebe zhennan; Trung văn gọi là nam mộc (楠木), nam thụ (楠樹/楠树), trinh nam (楨楠/桢楠)) là một loài thực vật thuộc họ Lauraceae. Đây là loài đặc hữu của Trung Quốc. Chúng hiện đang bị đe dọa mất môi trường sống. Nó được văn bản của phía Trung Quốc (văn bản tôi đang sử dụng là bia đá dựng vào những năm đầu thế kỉ 17) ghi là chữ Nam 楠. Chữ này có hai bộ phận: bộ mộc 木 chỉ cây, chữ nam 南 có ý chỉ là đến từ phương nam hay mọc ở phương nam. Phương nam ở đây là chỉ cả miền nam Trung Quốc ngày nay, nước Việt Nam, vùng Đông Nam Á rộng lớn. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-ve-go-trinh-nam/ Sách Bản thảo cương mục cũng ghi nhận nó là cây của phương nam. Đây là loại cây cho gỗ chắc, thớ mịn, rất tuyệt cho các kiến trúc gỗ như đình, chùa, và dinh thự, vì kị mối mọt. Gỗ của cây trinh nam vốn rất đắt đỏ, chỉ có các hoàng đế Trung Hoa mới có khả năng sở hữu. Theo sử sách, gỗ trinh nam từng được dùng để xây dựng Tử Cấm Thành và để làm ngai vàng, đồ nội