Chuyển đến nội dung chính

Xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ có thể vượt xa kỷ lục cũ

 Nếu dự báo vượt qua mốc 15,8 tỷ USD là đúng, thì kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ năm 2022 đạt mức cao nhất từ trước đến nay, vượt xa kỷ lục cũ đạt vào năm 2021.

Gỗ và sản phẩm gỗ đã sớm tham gia “câu lạc bộ” các mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch đạt từ 1 tỷ USD trở lên, hiện nằm trong nhóm cao. Trong 10 tháng đầu năm 2022, mặt hàng này đứng trong nhóm 6 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 10 tỷ USD, lớn hơn mức cả năm từ năm 2020 trở về trước, ước cả năm cao gấp 14,3 lần năm 2004.

Dự báo trên dựa vào nhiều căn cứ, trong đó căn cứ lớn nhất là kết quả xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ 10 tháng đầu năm, theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, đạt 13,475 tỷ USD, tăng 11,3%. Như vậy, kim ngạch xuất khẩu bình quân một tháng trong 10 tháng của mặt hàng này đạt 1,377 tỷ USD, trong đó có một số tháng đạt cao hơn. Nếu 2 tháng còn lại của năm cũng đạt mức của tháng 10 (1,2 tỷ USD), thì cả năm 2022, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ sẽ vượt mốc 15,8 tỷ USD, tăng 7,2% so với năm trước.

Có nhiều yếu tố tác động đến dự báo trên, bao gồm các yếu tố ở đầu vào và các yếu tố ở đầu ra. Trong đó, đầu vào bao gồm rừng trồng, gỗ khai thác, gỗ nhập khẩu và các cơ sở sản xuất đồ gỗ. Diện tích rừng trồng hàng năm liên tục đạt trên 260.000 ha; 10 tháng 2022 đạt 227.000 ha, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước. Khối lượng gỗ khai thác tăng liên tục: năm 2019 đạt 16,31 triệu m3, năm 2020 đạt 16,91 triệu m3, năm 2021 đạt gần 18,1 triệu m3, 10 tháng năm 2022 đạt 15,6 triệu m3 (tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước).

Cùng với đó, nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ tăng: năm 2019 đạt 2,54 tỷ USD, năm 2020 đạt 2,54 tỷ USD, năm 2021 đạt 2,93 tỷ USD, 10 tháng năm 2022 đạt 2,63 tỷ USD (tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước). Cả nước hiện có trên 11.000 doanh nghiệp chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, sản xuất giường, tủ, bàn ghế, với tổng số khoảng 500.000 lao động, trên 320.000 tỷ đồng vốn sản xuất - kinh doanh, khoảng 360.000 tỷ đồng doanh thu thuần…

Ở đầu ra, trong 9 tháng, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam tới trên 40 thị trường, trong đó có 27 thị trường đạt trên 10 triệu USD, có 8 thị trường đạt trên 100 triệu USD, đặc biệt có 3 thị trường đạt trên 1 tỷ USD (lớn nhất là Mỹ 6,82 tỷ USD, tiếp đến là Trung Quốc 1,62 tỷ USD, Nhật Bản 1,39 tỷ USD).

Tuy nhiên, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam đang đặt ra một số vấn đề cần quan tâm giải quyết. Cụ thể, về xuất khẩu, cần mở rộng thị trường (nhất là các thị trường như Canada, Anh, Australia, Đức, Pháp, Hà Lan, Malaysia, Đài Loan, Bỉ, Thái Lan, Tây Ban Nha, Đan Mạch, Italia…); tránh “bỏ trứng vào một giỏ”. Xuất khẩu vào thị trường Mỹ có quy mô lớn gấp nhiều lần thị trường lớn thứ 2, chiếm trên 55,5% tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của cả nước, trong khi đã có thông tin từ Mỹ về xuất xứ hàng hóa và nhập siêu lớn từ Việt Nam.

Bên cạnh đó, cần gia tăng diện tích trồng rừng; hạn chế tình trạng thiệt hại rừng để vừa có nguyên liệu ở trong nước, hạn chế nhập khẩu (dễ gặp rủi ro về giá cả, thị trường, về xuất xứ, liên quan đến môi trường,…), lại góp phần bảo vệ và cải thiện môi trường, giải quyết việc làm… Tăng quy mô, tăng kết nối giữa các doanh nghiệp để có thể đáp ứng được yêu cầu nhập khẩu với lô hàng có khối lượng lớn, phải giao trong kỳ hạn ngắn của nhiều khách hàng ở một số thị trường…

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh