Chuyển đến nội dung chính

Trồng rừng gỗ lớn không rủi ro như nhiều người nghĩ

 Ông Lê Quốc Thanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia cho rằng, trồng rừng gỗ lớn không những cho hiệu quả kinh tế cao mà còn giảm thiểu rủi ro.

Empty

Ông Lê Quốc Thanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia cho rằng, trồng rừng gỗ lớn không rủi ro như nhiều người nghĩ. Ảnh: Võ Dũng.

Trong chuyến công tác mới đây tại tỉnh Quảng Trị, ông Lê Quốc Thanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia đã đi thăm mô hình trồng rừng gỗ lớn tại Hợp tác xã (HTX) Dịch vụ nông nghiệp Thủy Đông, xã Cam Thủy (Cam Lộ).

Ông Thanh cho rằng, trồng rừng gỗ lớn mang lại lợi ích kép, vừa tăng hiệu quả kinh tế vừa góp phần bảo vệ môi trường. Người dân vẫn cho rằng, trồng rừng gỗ lớn dễ gặp rủi ro do các vấn đề về thiên tai. Tuy nhiên, theo ông Thanh, chính việc trồng rừng gỗ lớn mới giúp người trồng rừng giảm thiểu tần suất rủi ro.

Ông Nguyễn Văn Lục, Giám đốc HTX dịch vụ nông nghiệp Thủy Đông cho biết, HTX hiện có 55 ha rừng trồng, chủ yếu là keo nguyên liệu. Thông thường, người trồng keo ở đây trồng đến năm thứ 5 sẽ thu hoạch và quay lại trồng mới. Với chu kỳ trồng và thu hoạch như trên, bình quân mỗi ha keo cho nguồn thu từ 80-120 triệu đồng/ha/5 năm.

Từ năm 2014 đến nay, thông qua công tác tuyên truyền và nhờ được chuyển giao kỹ thuật từ Trung tâm Khuyến nông tỉnh Quảng Trị, nhiều hộ xã viên HTX Thủy Đông đã chuyển sang trồng rừng gỗ lớn để phục vụ vùng nguyên liệu chế biến và xuất khẩu. Các HTX trên địa bàn tỉnh cũng đã chủ động liên doanh liên kết với nhà máy chế biến gỗ để giúp nông dân tăng hiệu quả kinh tế từ nghề trồng rừng.

“Sau 8 năm trồng rừng gỗ lớn, theo ước tính của các hộ dân, nếu khai thác từ năm thứ 9 đến năm thứ 11 thì mỗi ha rừng gỗ lớn cho lợi nhuận trên 200 triệu đồng. Hiệu quả từ rừng gỗ lớn so với rừng trồng gỗ dăm cao hơn rất nhiều lần, nhất là khi có mối liên doanh liên kết với các nhà máy chế biến gỗ đóng trên địa bàn”, ông Lục cho hay.

Quảng Trị hiện có gần 96 nghìn ha rừng trồng, chủ yếu là keo, sản lượng gỗ hàng năm đạt 900 nghìn đến 1 triệu m3. Trong đó có gần 18 nghìn ha keo hiện đã được cấp chứng chỉ FSC. Toàn tỉnh hiện có 6/24 HTX tham gia vào việc cấp chứng chỉ FSC với tổng diện tích 4,5 nghìn ha.

Trên địa bàn tỉnh Quảng Trị hiện có 48 nhà máy chế biến lâm sản với công suất trên 1,3 triệu tấn nguyên liệu/năm và 126 cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản được cấp phép hoạt động chủ yếu sản xuất ván ghép thanh, đồ gỗ nội thất, đồ mộc dân dụng.

Quảng Trị phấn đấu trở thành trung tâm cung cấp gỗ nguyên liệu và chế biến gỗ từ rừng trồng ở khu vực Bắc miền Trung. Để hiện thực hóa mục tiêu này, việc phát triển rừng gỗ lớn, rừng có chứng chỉ FSC trở thành yếu tố cấp thiết đối với ngành lâm nghiệp tỉnh Quảng Trị.

Quảng Trị cũng vừa được Bộ NN-PTNT phê duyệt thực hiện dự án xây dựng mô hình vườn ươm sản xuất cây giống lâm nghiệp phục vụ vùng nguyên liệu.

Empty

Trồng rừng gỗ lớn mang lại lợi ích kép. Ảnh: Võ Dũng.

Để thực hiện dự án này, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Quảng Trị đã chuyển giao kỹ thuật trồng rừng gỗ lớn và chuyển hóa rừng gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn bằng phương pháp dâm hom cho nhiều hộ dân. Dự kiến, trong năm 2022, Quảng Trị tập trung xây dựng dự án vườn ươm cải tiến với quy mô 120 nghìn cây giống/năm.

Ông Lê Quốc Thanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia cho rằng, Quảng Trị là vùng đất còn nhiều dư địa cho việc phát triển vùng sản xuất gỗ lớn. Hiện nay, ngoài việc giúp bà con nông dân xây dựng vùng nguyên liệu, Bộ NN-PTNT đã hỗ trợ để các doanh nghiệp lắp đặt những nhà máy chế biến tại địa phương này. Đây sẽ là cơ hội để ngành trồng rừng và chế biến gỗ tại Quảng Trị bứt phá trong thời gian tới.

"Trồng rừng gỗ lớn không rủi ro như nhiều người vẫn nghĩ. Với chu kỳ 9-11 năm thu hoạch, trồng rừng gỗ lớn chỉ cần trồng và chăm sóc 1 lần. Trong khi đó, cùng thời gian trên, với 2 chu kỳ trồng rừng gỗ nhỏ, nông dân phải đầu tư gấp 2 lần. Tần suất rủi ro của gỗ nhỏ đương nhiên nhiều hơn, nhất là phải trải qua 2 giai đoạn cây còn nhỏ. Đặc biệt, khi chúng ta liên kết được giữa người sản xuất với những nhà máy chế biến thì giá trị trồng rừng sẽ gia tăng", ông Thanh nêu quan điểm.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh