Chuyển đến nội dung chính

Định vị gỗ Việt trên bản đồ thế giới

 

Ngành chế biến gỗ Việt Nam đã có sự phát triển bứt phá thời gian qua. Tuy nhiên, các doanh nghiệp cần chú ý đến việc xây dựng thương hiệu để có thể trụ vững trên thị trường quốc tế.

Để có thể giữ vững thị trường xuất khẩu, doanh nghiệp gỗ cần nỗ lực và chủ động xây dựng thương hiệu.
Để có thể giữ vững thị trường xuất khẩu, doanh nghiệp gỗ cần nỗ lực và chủ động xây dựng thương hiệu.

Đó là nhận định của giới chuyên gia tại Hội thảo thúc đẩy thương hiệu gỗ Việt do Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) tổ chức tại TP Hồ Chí Minh, ngày 9/12.

Theo Tổng cục Lâm nghiệp, cả nước có khoảng 300 làng nghề, 5.580 doanh nghiệp (DN) tham gia ngành chế biến gỗ; trong đó, DN vừa và nhỏ chiếm gần 97,8 %; DN quy mô lớn (trên 100 tỷ đồng) chỉ chiếm trên 2,2%.

Với sự chủ động nâng cao năng lực sản xuất, thời gian qua, các DN chế biến gỗ đã được thị trường trong nước đón nhận với niềm tin ngày càng gia tăng. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, với thị trường nước ngoài, sản phẩm gỗ của chúng ta vẫn chưa ghi được dấu ấn. Bằng chứng là, gỗ xuất khẩu của Việt Nam vẫn phải thông qua thương hiệu của DN nước ngoài. Nguyên nhân được chỉ rõ, là do chính sách phát triển thương hiệu ngành chế biến gỗ chưa quan tâm đúng mức. Các DN gỗ và sản phẩm gỗ Việt Nam vẫn thiếu và yếu về nguồn lực, do đó, việc xây dựng thương hiệu vẫn còn hạn chế. Đây đang là rào cản sự phát triển của ngành gỗ chế biến tại thị trường thế giới.

Tại hội thảo, ông Trần Lê Huy - Phó chủ tịch Hiệp hội Gỗ Bình Định cho biết, Đề án phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ bền vững, hiệu quả giai đoạn 2021 - 2030 đã đề ra mục tiêu đến năm 2030, ngành công nghiệp chế biến gỗ trở thành một ngành kinh tế quan trọng; xây dựng, phát triển thương hiệu sản phẩm gỗ Việt Nam có uy tín trên thị trường trong nước và quốc tế; phấn đấu để Việt Nam nằm trong nhóm các nước hàng đầu thế giới về sản xuất, chế biến, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ.

Giới chuyên gia nhận định, thị trường đồ nội thất của thế giới rất lớn, với giá trị thương mại khoảng 450 tỷ USD/năm, trong đó nội thất bằng gỗ khoảng 150 tỷ USD/năm. Trong khi, kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam mới chiếm khoảng 6% thị phần toàn cầu, nên dư địa phát triển của ngành đến năm 2045 còn rất lớn. Một số thị trường tiềm năng có cơ hội mở rộng phát triển mới như Canada, Nga, Ấn Độ, UAE…

Việt Nam có nhiều mặt hàng xuất khẩu có thế mạnh và nhóm đồ nội thất có giá trị xuất khẩu lớn nhất trong các nhóm hàng xuất khẩu gỗ. Thị trường giàu tiềm năng nhưng làm sao để giữ vững được thị trường, định vị được thương hiệu của sản phẩm gỗ Việt trên bản đồ thế giới, đó là vấn đề được nhiều người quan tâm.

Theo ông Trần Lê Huy, để phát triển thương hiệu ngành gỗ Việt, khẳng định giá trị của sản phẩm gỗ nước nhà trên thị trường thế giới, cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa các cộng đồng DN gỗ cả nước; coi xây dựng, phát triển thương hiệu là vấn đề cấp thiết gắn liền với tầm nhìn, giá trị cốt lõi và chiến lược phát triển ngành và DN.

Đồng quan điểm, ông Nguyễn Văn Diện - Vụ trưởng Vụ Phát triển sản xuất Lâm nghiệp cho rằng, thương hiệu là linh hồn của DN, thể hiện niềm tin của khách hàng đối với sản phẩm. “Thương hiệu tầm quốc gia giúp DN mở rộng thị trường, các DN đều đã có chiến lược của mình, muốn có thương hiệu quốc gia, từng DN phải xây dựng nền móng tốt” – ông Diện nêu quan điểm.

Theo các chuyên gia, trong bối cảnh thương mại quốc tế, ngành gỗ nói riêng và các ngành hàng xuất khẩu nói chung, việc xây thương hiệu đóng vai trò rất quan trọng. Do đó, bất cứ DN nào cũng cần phải chủ động xây dựng thương hiệu, cùng với đó cần phải quản trị thương hiệu một cách hiệu quả để có thể phát triển một cách bền vững. Với việc xây dựng thương hiệu tốt, các DN sẽ làm tăng giá trị thương mại, không những góp phần nâng cao kim ngạch xuất khẩu, giá trị bán buôn nội địa mà còn định vị ngành đồ gỗ nội thất của Việt Nam trên bản đồ thế giới.

Ngành chế biến gỗ phải xây dựng và phát triển thương hiệu “Gỗ Việt”, khuyến khích DN chế biến gỗ sử dụng thương hiệu “Gỗ Việt”, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, uy tín sản phẩm gỗ của Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh