Chuyển đến nội dung chính

'Lá chắn xanh' bảo vệ hơn 9.000 dân

 Rừng ngập mặn đã trở thành “lá chắn xanh” giúp bà con xã Đa Lộc yên tâm sản xuất, ổn định đời sống...

Xã có 500 ha rừng ngập mặn

Xã Đa Lộc (Hậu Lộc, Thanh Hóa) có 3 mặt tiếp giáp với biển và sông, là nơi quần cư của hơn 9.000 dân. Với vị trí địa lý và địa hình khá đặc biệt, nơi đây được xem là vùng “rốn” bão của huyện Hậu Lộc nói riêng, tỉnh Thanh Hóa nói chung.

Ông Vũ Văn Trung, Phó Chủ tịch UBND xã Đa Lộc cho biết, năm 2005, cơn bão số 7 đổ bộ, phá vỡ hầu hết hệ thống đê đất chạy dọc 4 thôn ven biển, gây thiệt hại lớn đến tài sản của người dân. Toàn xã có hơn 100 ha đất sản xuất và khoảng 200 ha đất nuôi trồng thủy sản bị nước mặn xâm nhập. Sau bão, tuyến đê dài hàng km còn sót lại vỏn vẹn hơn 100 mét vì được che chắn bởi thảm rừng ngập mặn.

Phía trên đê là rừng phi lao, phía dưới đê là ngập mặn. 'Lá chắn xanh' đang từng ngày bảo vệ người dân xã Đa Lộc trước biến đổi khí hậu. Ảnh: Quốc Toản.

Phía trên đê là rừng phi lao, phía dưới đê là ngập mặn. "Lá chắn xanh" đang từng ngày bảo vệ người dân xã Đa Lộc trước biến đổi khí hậu. Ảnh: Quốc Toản.

Từ năm 1989 đến nay, nhờ các chương trình, dự án đầu tư của một số tổ chức phi chính phủ, hơn 4 km bờ biển tại xã Đa Lộc đã được phủ xanh bằng 500 ha rừng ngập mặn. Những cánh rừng sú, vẹt, bần chua hàng chục năm tuổi chạy dài tít tắp dọc theo chân đê được xem là “lá chắn xanh” ngăn triều cường, chống sạt lở và nước biển xâm thực, giảm thiểu rủi ro thiên tai.

Đánh giá về vai trò của rừng ngập mặn đối sự phát triển kinh tế, xã hội tại địa phương, ông Vũ Văn Trung cho biết, việc trồng rừng ngập mặn ở Đa Lộc mang lại nhiều lợi ích, từ việc bảo tồn các hệ sinh thái tự nhiên ven biển góp phần giảm thiểu rủi ro thiên tai, đến việc tạo sinh kế cho người dân.

Rừng ngập mặn ven biển không chỉ giúp ứng phó với biến đổi khí hậu mà còn giúp bà con trong xã ổn định đời sống, yên tâm sản xuất.

Hiện nay, địa phương đang phát triển ngành du lịch sinh thái gắn với bảo vệ, phát triển rừng phòng hộ, rừng ngập mặn, từng bước tăng thu nhập cho người dân.

Rừng ngập mặn đem lại nguồn lợi thủy sản lớn cho người dân xã Đa Lộc. Ảnh: Quốc Toản.

Rừng ngập mặn đem lại nguồn lợi thủy sản lớn cho người dân xã Đa Lộc. Ảnh: Quốc Toản.

Ông Vũ Tân Sửu người dân xóm Đông Thành cho hay: “Dải rừng ngập mặn ven biển giúp bà con không phải lo lắng mỗi khi nghe tin báo bão. Vì có rừng che chắn nên cả chục năm nay địa phương rất ít khi bị ảnh hưởng bởi các hiện tượng tiêu cực từ thiên nhiên. Ngoài ra, việc rừng ngập mặn được phục hồi tại địa phương đem lại không khí trong lành, góp phần nâng cao ý thức của cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường sống”.

Theo Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa, kết quả lũy kế đến nay, trên địa bàn toàn tỉnh trồng được 9.400 ha rừng trồng tập trung; trồng 5,5 triệu cây phân tán. Diện tích rừng ngập mặn ven biển chiếm khoảng 1.000 ha đang phát huy hiệu quả trong việc ngăn nước biển xâm thực, ổn định đời sống người dân. 

Có rừng là có tất cả

Nguồn lợi từ dải rừng phòng hộ ven biển xã Đa Lộc đã và đang giúp nhiều người dân có nguồn thu nhập ổn định nhờ khai thác nguồn lợi thủy sản tự nhiên. Mỗi khi thủy triều rút, rừng ngập mặn để lại các “sản vật” tự nhiên như cá còi, cua, cáy dưới những gốc cây sú, vẹt, bần.

Ông Vũ Tân Sửu cho biết: “Rừng ngập mặn là nơi sinh sống của nhiều loài thủy sản. Do đó, người dân địa phương coi khu rừng này là một phần không thể thiếu trong đời sống. Hằng ngày, người dân có thể kiếm được vài ký cá, cua, cáy... để cải thiện bữa ăn hoặc bán cho thương lái. Các loài thủy sản nơi đây có hàm lượng dinh dưỡng cao nên giá trị kinh tế cũng lớn. Nếu gặp may, người dân có thể kiếm được 500-700 nghìn/ngày nhờ nghề bắt cua, cáy…".

Nghề nuôi ong lấy mật rất phát triển tại xã Đa Lộc. Ảnh: Quốc Toản.

Nghề nuôi ong lấy mật rất phát triển tại xã Đa Lộc. Ảnh: Quốc Toản.

Đặc biệt, nhờ có dải rừng ngập mặn sú, vẹt, nên nghề nuôi ong mật tại xã Đa Lộc rất phát triển. Toàn xã Đa Lộc hiện tại có hơn 200 hộ nuôi ong, trong đó có 65 hộ là thành viên của tổ hợp tác nuôi ong.

Nhiều gia đình vươn lên thoát nghèo, có thu nhập ổn định từ nghề nuôi ong mật khi tận dụng được nguồn hoa khổng lồ từ những cánh rừng ngập mặn ven biển.

Ông Trần Duy Trái hộ dân nuôi ông tại thôn Đông Thành cho hay, nghề nuôi ong tuy không giàu như các nghề khác, nhưng đem lại cuộc sống ổn định cho người dân. Mỗi năm nghề nuôi ong đem lại thu nhập cho gia đình ông từ 60-70 triệu đồng.

Hiện nay, xã Đa Lộc đang xây dựng thương hiệu mật ong rừng ngập mặn là sản phẩm đạt chuẩn OCOP của địa phương để nâng cao thương hiệu sản phẩm, nâng cao giá trị thu nhập cho người dân.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh