Chuyển đến nội dung chính

Đưa nguồn gỗ hợp pháp đến làng nghề nhiều hơn

 Do nguồn gỗ tự nhiên ngày càng ít và khan hiếm, doanh nghiệp trong nước và làng nghề truyền thống cần tìm đến những nguồn gỗ hợp pháp với nguồn cung ổn định, bền vững.

Ông Tô Xuân Phúc, chuyên gia của Tổ chức Forest Trends, phát biểu tại hội thảo. Ảnh: BT.

Ông Tô Xuân Phúc, chuyên gia của Tổ chức Forest Trends, phát biểu tại hội thảo. Ảnh: BT.

Tại Hội thảo "Liên kết công ty với các hộ tại làng nghề gỗ, Giảm rủi ro và thúc đẩy phát triển bền vững thị trường nội địa trong tương lai", ông Đỗ Xuân Lập, Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (Viforest) cho biết, khi nhắc đến ngành gỗ, đại bộ phận người dân đều nghĩ đến giá trị xuất khẩu kỷ lục 15,87 tỷ USD vào năm 2021. 

Dù vậy, ngành gỗ vẫn trăn trở với vấn đề đảm bảo nguồn cung gỗ hợp pháp, theo ông Lập. Mỗi năm Việt Nam nhập khẩu khoảng 4-5 triệu m3 gỗ nguyên liệu, nhưng 30-40% trong số đó thuộc nhóm gỗ rủi ro. Điều này có thể dẫn đến những hệ lụy, như vụ điều tra 301 của Cơ quan đại diện thương mại Mỹ về ngành gỗ Việt Nam cuối năm 2020.

Một vấn đề nữa được Chủ tịch Viforest chỉ ra, là bối cảnh thế giới hiện diễn biến phức tạp. Do đó, thị trường trong nước, với dân số gần 100 triệu dân và tầng lớp trung lưu lớn, là một "hợp phần không thể tách rời", giúp ngành gỗ trụ vững, duy trì hoạt động, và tìm kiếm thêm những tập khách hàng mới.

"Hầu hết lượng gỗ rủi ro nhập khẩu được chế biến thành các sản phẩm đồ gỗ và cung cấp cho thị trường nội địa thông qua hệ thống hơn 300 làng nghề gỗ, chủ yếu tập trung ở các tỉnh Đồng bằng Bắc bộ, với hàng chục, thậm chí hàng trăm nghìn hộ gia đình tham gia", ông Lập nói.

Ngành gỗ đang ngày càng quan tâm hơn đến thị trường nội địa. Ảnh: BT.

Ngành gỗ đang ngày càng quan tâm hơn đến thị trường nội địa. Ảnh: BT.

Làm rõ hơn quan điểm của ông Đỗ Xuân Lập, chuyên gia Tô Xuân Phúc của Tổ chức Forest Trends chia sẻ, các làng nghề gỗ truyền thống đang trải qua giai đoạn nhiều biến động.

Cụ thể, đối tượng lao động của làng nghề giờ bị già hóa, do người trẻ hướng đến làm việc tại các khu công nghiệp do thu nhập ổn định. Ngoài ra, nhu cầu từ một số thị trường truyền thống như Trung Quốc giảm sút buộc các làng nghề phải quan tâm hơn đến thị trường trong nước.

Những thay đổi này dẫn đến chuyển dịch ở cả 3 phân khúc khách hàng của các làng nghề. Trước đây, nguồn cung cho phân khúc thấp chủ yếu đến từ gỗ rừng trồng; phân khúc trung bình (dành cho đối tượng trẻ, ở thành thị) là gỗ nhập khẩu ít rủi ro; phân khúc cao cấp là gỗ tự nhiên, hầu hết là qua đường nhập khẩu, hướng đến nhóm đối tượng trung tuổi, có thu nhập cao. 

"Khách hàng giờ đã quan tâm nhiều hơn đến chất lượng, mẫu mã. Một người cao tuổi cũng có thể ưa chuộng sản phẩm gỗ Tây (gỗ nhập khẩu ít rủi ro), nếu sản phẩm đó cung cấp những giá trị phù hợp", ông Phúc nói.

Chuyên gia Forest Trends đánh giá, các làng nghề tại Việt Nam có điểm mạnh là tay nghề cao, hệ thống và cơ sở sản xuất sẵn có, truyền thống lâu đời. Tuy nhiên, điểm yếu là sản xuất tự phát, phân tán, nhỏ lẻ, công nghệ đơn giản, ít thay đổi về mẫu mã, quản trị hạn chế. Điều ấy dẫn tới rủi ro là dễ lệ thuộc vào một vài thị trường và khó bắt kịp sự dịch chuyển xu thế tiêu dùng.

Nhấn mạnh "gỗ quý, gỗ tự nhiên ngày càng khan hiếm", ông Tô Xuân Phúc khuyến cáo các làng nghề gỗ như La Xuyên, Đồng Kỵ, Liên Hà, Hữu Bằng... cần lắng nghe tín hiệu từ thị trường quốc tế. Trước mắt, là liên kết các làng nghề với nhau, liên kết làng nghề với doanh nghiệp cung cấp gỗ hợp pháp.

Ông Võ Quang Hà, Chủ tịch Tavico chia sẻ về thị trường gỗ Tây. Ảnh: BT.

Ông Võ Quang Hà, Chủ tịch Tavico chia sẻ về thị trường gỗ Tây. Ảnh: BT.

Tại hội thảo, ông Võ Quang Hà, Chủ tịch Công ty CP Tân Vĩnh Cửu (Tavico) chia sẻ ý tưởng xây dựng một hệ sinh thái cho các làng nghề gỗ truyền thống. Trong đó, công ty sẽ đảm bảo nguồn cung gỗ nước ngoài (gỗ Tây) thông qua một "chợ đầu mối" tại khu vực Hố Nai, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Sản phẩm được cung cấp cho làng nghề dưới dạng "phôi". 

Song song với đó, Tavico còn xây dựng một không gian để các làng nghề, HTX đến trao đổi, chia sẻ kiến thức và trưng bày sản phẩm mẫu. "Một khi doanh nghiệp gỗ và làng nghề cùng tập trung trí tuệ, tận dụng kinh nghiệm của doanh nghiệp và tinh hoa của làng nghề, sẽ tạo ra không gian cho sáng tạo, sự tươi mới cho thương hiệu và sản phẩm gỗ của Việt Nam", ông Hà bày tỏ. 

Ủng hộ ý tưởng của ông Hà, Chủ tịch Viforest Đỗ Xuân Lập thừa nhận, các làng nghề và công ty trong ngành gỗ hiện ít sự liên kết. Nói cách khác, các làng nghề tồn tại đương đối biệt lập, chưa trở thành một bộ phận của chuỗi cung.

"Một số mô hình liên kết, chẳng hạn như của của Tavico đang xây dựng với một số làng nghề phía Bắc là điểm sáng. Chúng ta cần lan tỏa những giá trị này, trước khi chờ cơ chế, chính sách hỗ trợ của nhà nước", ông Lập nhấn mạnh.

Chính phủ Việt Nam đã có nhiều cam kết mạnh mẽ loại bỏ gỗ bất hợp pháp ra khỏi chuỗi cung. Giảm lượng gỗ rủi ro nhập khẩu, do đó, góp phần thúc đẩy nhu cầu sử dụng gỗ rừng trồng, đồng thời thay đổi thói quen sử dụng gỗ tự nhiên.

Ông Nguyễn Văn Trường, đến từ làng nghề mộc Thụy Lân, xã Thanh Long, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên chia sẻ, trước đây, làng nghề của ông chủ yếu sử dụng những loại gỗ như nghiến, gụ, hương để sản xuất. Nguyên do bởi xu hướng tiêu dùng của người Việt Nam theo hướng ăn chắc, mặc bền.

Vài năm gần đây, những loại gỗ tự nhiên khan hiếm, buộc làng nghề phải chuyển đổi, tìm kiếm những nguồn cung mới. Ông Trường bày tỏ: "Bên cạnh đầu ra cho sản phẩm, làng nghề chúng tôi rất muốn liên kết với những nguồn cung gỗ hợp pháp, ổn định, bền vững, giảm thiểu chi phí phân tích thị trường, xúc tiến thương mại và logistics".

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh