Chuyển đến nội dung chính

Quảng Nam siết chặt quản lý giống cây lâm nghiệp

 Quảng Nam hiện có 141 cơ sở sản xuất, kinh doanh giống cây trồng lâm nghiệp. Trong đó chỉ có 60 cơ sở có giấy phép kinh doanh, 81 cơ sở không có giấy phép.

Theo Sở NN-PTNT tỉnh Quảng Nam, trên địa bài tỉnh này hiện có 141 cơ sở sản xuất kinh doanh giống cây trồng lâm nghiệp. Trong đó có 60 cơ sở có giấy phép kinh doanh, 81 cơ sở không có giấy phép. Các loài cây trồng chính được các cơ sở sản xuất chủ yếu là cây keo, quế, sao đen, một phần nhỏ là lim xanh, giổi, huỳnh đàn, ươi.

Đối với nguồn giống cây trồng lâm nghiệp được công nhận và đang còn thời hạn sử dụng ở Quảng Nam, chỉ có 110 cây quế trội trên địa bàn huyện Phước Sơn, Nam Trà My và Bắc Trà My; 10ha rừng giống chuyển hoá từ rừng trồng quế trên địa bàn huyện Nam Trà My và hiện nay đang tiếp tục hoàn chỉnh thủ tục 8ha rừng giống chuyển hoá từ rừng trồng quế

Empty

Số lượng cây giống đảm bảo chất lượng, truy xuất nguồn gốc ở tỉnh Quảng Nam chưa đáp ứng được nhu cầu của người trồng rừng trong tỉnh. Ảnh: Lê Khánh.

Thực tế này có thể thấy, nguồn giống cây trồng lâm nghiệp hiện có của Quảng Nam vẫn còn hạn chế về số lượng và số loài, chưa đáp ứng yêu cầu trồng rừng, phục vụ tái cơ cấu lâm nghiệp. Bên cạnh đó, đa số nguồn giống được công nhận của địa phương đã hết thời hạn, nhưng vẫn chưa được gia hạn.

Ông Trần Út, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Quảng Nam cho biết, hàng năm, diện tích trồng rừng trên địa bàn tỉnh khoảng 30.000ha, dự kiến nhu cầu giống lâm nghiệp cần là 75 triệu cây giống/năm. Tuy nhiên, trên địa bàn tỉnh hiện có 138 đơn vị tham gia sản xuất, cung ứng giống với số lượng cây giống sản xuất khoảng 54 triệu cây. Do đó, hàng năm, Quảng Nam phải mua từ ngoại tỉnh khoảng 21 triệu cây giống.

“Điều này xuất phát từ một bộ phận chủ sản xuất, kinh doanh giống là hộ gia đình, cá nhân tự phát nên chưa đảm bảo các điều kiện về sản xuất, kinh doanh giống cây lâm nghiệp. Đồng thời, họ chưa nắm bắt được quy trình kỹ thuật, nguồn vật liệu giống chưa đảm bảo, do đó chất lượng nguồn giống cung cấp hiệu quả thấp” ông Út nói.

Từ thực trạng này, ông Út cho biết, nhằm cung cấp, bổ sung giống cho công tác trồng rừng trong thời gian tới, ngành lâm nghiệp tỉnh Quảng Nam đang triển khai xây dựng một số dự án về phát triển giống tại một số địa phương như Nam Giang, Bắc Trà My, Phú Ninh…

Ngoài ra, Sở NN-PTNT cũng đang phối hợp với Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam xây dựng Đề án phát triển nguồn giống cây lâm nghiệp bản địa giai đoạn 2022 – 2028. Dự kiến sẽ xây dựng 20ha để tuyển chọn lim xanh, ươi, dổi, muồng đen đảm bảo bảo chất lượng. Phấn đấu đến năm 2030, tỉ lệ cây giống cung cấp cho trồng rừng được kiểm soát nguồn gốc trên địa bàn tỉnh đạt 95%.

Empty

Công tác giống có vai trò rất quan trọng trong sản xuất lâm nghiệp. Ảnh: Lê Khánh.

Tại hội thảo về công tác quản lý sản xuất, kinh doanh giống cây lâm nghiệp vừa được tổ chức ở Quảng Nam vừa qua, các chuyên gia thuộc Viện Nghiên cứu Giống và Công nghệ sinh học Lâm nghiệp (Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam) cho rằng, xác định giống cây đảm bảo chất lượng đóng vai trò rất quan trọng trong sản xuất lâm nghiệp, giúp cải thiện mục tiêu năng suất rừng trồng phù hợp với điều kiện sinh thái và môi trường tự nhiên.

Để phát triển giống cây lâm nghiệp đạt chuẩn, ngoài quản lý, chọn lựa và nhân giống chất lượng cao, các chuyên gia khuyến khích ứng dụng quy trình, công nghệ nhân giống theo phương thức nuôi cấy mô tế bào, cải tiến các vườn ươm cây giống bằng vỏ bầu…

Theo ông Hồ Quang Bửu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam, để nâng cao hiệu quả của ngành lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh, thời gian tới cần phải tăng cường công tác quản lý, kinh doanh giống cây lâm nghiệp. Theo đó, ông Bửu yêu cầu các huyện, thị xã, thành phố đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về tầm quan trọng của công tác giống trong sản xuất lâm nghiệp.

Đồng thời, tăng cường công tác quản lý nhà nước về giống cây lâm nghiệp ở các cấp, nhất là cấp huyện; tổ chức thanh tra, kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh giống cây trồng lâm nghiệp không đảm bảo chất lượng, không có hồ sơ nguồn gốc giống, không đáp ứng các điều kiện về sản xuất, kinh doanh giống.

“Cần tập trung xây dựng các rừng giống cây bản địa, khuyến khích người dân sử dụng giống có năng suất, chất lượng cao, cây giống vô tính để trồng rừng và áp dụng các biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng rừng trồng trên đơn vị diện tích.

Ngoài ra, cần có cơ chế chính sách phù hợp, khuyến khích các cơ sở sản xuất giống nghiên cứu khảo nghiệm, sản xuất các loài giống có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu trồng rừng trên địa bàn tỉnh”, ông Bửu nói.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh