Chuyển đến nội dung chính

Quản lý, bảo vệ rừng bền vững ở Mường Lát

 (Baothanhhoa.vn) - Cùng chúng tôi đi thăm những cánh rừng phòng hộ trên địa bàn, Trạm trưởng Trạm kiểm lâm Trung Lý Lê Duy Cường, cho biết: Trạm kiểm lâm Trung Lý (thuộc Hạt Kiểm lâm huyện Mường Lát) có 4 cán bộ, kiểm lâm viên (KLV) được giao nhiệm vụ quản lý, bảo vệ 25.600,16 ha rừng thuộc 3 xã của huyện Mường Lát (Trung Lý, Mường Lý và Nhi Sơn).

Quản lý, bảo vệ rừng bền vững ở Mường LátCán bộ, công nhân Ban Quản lý rừng phòng hộ Mường Lát tuần tra bảo vệ rừng tại thị trấn Mường Lát.

Địa bàn 3 xã do trạm quản lý có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống, tỷ lệ hộ nghèo cao, thu nhập của người dân chủ yếu phụ thuộc vào rừng. Sức ép về nhu cầu gỗ cho mục đích gia dụng, làm nhà ở và tập quán canh tác nông nghiệp trên đất dốc của người dân bản địa đang là nguyên nhân cơ bản đe dọa đến an ninh rừng trên địa bàn. Các tháng vừa qua, ngoài bố trí KLV về phụ trách địa bàn tham mưu cho chính quyền các xã chủ động bảo vệ rừng (BVR) tận gốc, trạm đã chủ động phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan trên địa bàn thực hiện nhiều giải pháp từ công tác tuyên truyền đến kiểm tra, kiểm soát, xử lý nghiêm minh các đối tượng vi phạm Luật Lâm nghiệp. Đồng thời, hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc và BVR cho người dân.

Ông Thao Văn Tụa - một chủ rừng tại xã Nhi Sơn hồ hởi cho biết: Gia đình được Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi, giao đất, giao rừng với diện tích 8,3 ha từ năm 1999. Đến nay, gia đình đã trồng được 3 ha xoan, còn lại là lát. Sau khi trồng, thường xuyên phát dọn thực bì để phòng cháy, chủ động bón phân để cây phát triển. Bên cạnh diện tích rừng trồng, ông còn nhận chăm sóc, khoanh nuôi, bảo vệ hơn 5 ha rừng tự nhiên phục hồi. Cùng với lực lượng kiểm lâm làm việc tại địa bàn và ban quản lý bản, chính quyền địa phương, gia đình thường xuyên kiểm tra, tuần tra rừng để kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý những hành vi vi phạm pháp luật về BVR. Do chủ động chăm sóc và bảo vệ, toàn bộ diện tích rừng do gia đình ông làm chủ phát triển tốt, không để xảy ra tình trạng cháy rừng, rừng được bảo vệ an toàn...

Đến tháng 9-2022, huyện Mường Lát có hơn 68.706 ha rừng. Nhận thức rừng không chỉ là nguồn tài nguyên quý, có giá trị lớn về môi sinh, môi trường, góp phần quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ an ninh - quốc phòng mà còn góp phần thiết thực tạo thêm việc làm tại chỗ, nâng cao thu nhập cho đồng bào địa phương, hạt kiểm lâm đã chủ động tham mưu cho cấp ủy, chính quyền từ huyện đến cơ sở lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện lĩnh vực lâm nghiệp và phối hợp với các cơ quan, ban, ngành có liên quan triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR). Huyện ủy, HĐND, UBND huyện và các ban, ngành, đoàn thể từ huyện đến cơ sở, cùng với chính quyền các xã, thị trấn, chủ rừng và người dân đã chung sức BV&PTR. Kết quả nổi bật là kinh tế lâm nghiệp trên địa bàn ngày càng phát triển, an ninh rừng ổn định theo hướng bền vững, các hành vi, vi phạm quy định Luật Lâm nghiệp sớm được phát hiện và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

Ông Nguyễn Văn Bính, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Mường Lát, chia sẻ: Từ đầu năm 2022, đơn vị đã tham mưu cho Thường trực Huyện ủy, UBND, ban chỉ đạo (BCĐ) thực hiện chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững huyện, ban hành các văn bản chỉ đạo cấp ủy, chính quyền cơ sở, các ban, ngành, cơ quan, đơn vị trên địa bàn thực hiện nghiêm Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12-1-2017 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, BV&PTR, các văn bản chỉ đạo của Chính phủ, của tỉnh về công tác BV&PTR, phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR), nhằm huy động cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc. Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, MTTQ và các tổ chức, đoàn thể, chủ rừng, đồn biên phòng tăng cường công tác tuyên truyền, vận động Nhân dân tham gia BVR, PCCCR; ưu tiên tuyên truyền về công tác PCCCR, xử lý hành vi đốt phá rừng làm nương rẫy, chống chặt phá rừng. Quan điểm chỉ đạo là: kiểm lâm địa bàn xuống thôn (bản) thì phải tuyên truyền mọi lúc, mọi nơi; phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, những người có uy tín trong công tác tuyên truyền, vận động. Tiếp tục triển khai, thực hiện có hiệu quả Đề án “tiếp nhận và xử lý thông tin, kiến nghị, đề nghị của Nhân dân về công tác kiểm lâm”; tổ chức đối thoại với Nhân dân về công tác BVR và PTR, về hoạt động của kiểm lâm ở cơ sở, nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của Nhân dân trong lĩnh vực lâm nghiệp; nâng cao vai trò, trách nhiệm của chủ rừng, chính quyền trong công tác quản lý Nhà nước về lâm nghiệp. Phối hợp với chính quyền, chủ rừng rà soát các vùng trọng điểm về khai thác, xâm lấn, phá rừng trái pháp luật; vùng trọng điểm có nguy cơ cháy cao để xây dựng phương án BVR, PCCCR phù hợp với tình hình thực tế.

Những ngày nắng nóng, khô hanh, địa bàn Mường Lát có nguy cơ cháy rừng cao. Đặc biệt, với 6.122,85 ha rừng dọc biên giới tại xã Trung Lý và Nhi Sơn, nơi có vật liệu cháy như cây le, lau lách, thực bì rất dày, đã khô nỏ, được xác định luôn tiềm ẩn nguy cơ cháy rất cao, ở cấp rất nguy hiểm trong mùa nắng nóng, khô hanh. Hạt kiểm lâm đã tham mưu cho chủ tịch UBND xã, trưởng BCĐ thực hiện chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững các xã, thị trấn phân công cho thành viên BCĐ xuống các bản đôn đốc, cảnh báo nguy cơ cháy rừng để người dân biết, chấp hành. Chỉ đạo KLV địa bàn tham mưu cho UBND, BCĐ cấp xã xây dựng phương án BVR năm 2022, phương án PCCCR cấp xã giai đoạn 2021-2025. Xây dựng kế hoạch huy động lực lượng, phương tiện, hậu cần tham gia chữa cháy rừng; rà soát các thôn, bản trọng điểm cháy rừng trên địa bàn 8 xã, thị trấn; củng cố kiện toàn lại các đội xung kích BVR-PCCCR các xã, thị trấn và các tổ (đội) BVR-PCCCR của các bản. Tổ chức quản lý chặt chẽ các nguyên nhân gây cháy rừng trên địa bàn, chủ yếu như đốt ong, xử lý thực bì làm nương rẫy và cháy lan từ Lào sang, phân công lực lượng kiểm lâm phối hợp với các chủ rừng Nhà nước, các xã trọng điểm kiểm soát chặt chẽ tình hình sản xuất nương rẫy của Nhân dân để phát hiện và ngăn chặn kịp thời các vụ phá rừng làm rẫy và xử lý thực bì cháy lan vào rừng.

Do thực hiện đồng bộ các giải pháp quản lý, BVR, 9 tháng năm 2022, an ninh rừng trên địa bàn huyện Mường Lát cơ bản ổn định, không có điểm nóng về khai thác, phá rừng, cháy rừng không xảy ra. Tài nguyên rừng đầu nguồn sông Mã được quản lý, bảo vệ bền vững không những phát huy tốt tính năng phòng hộ, bảo vệ tính đa dạng sinh học, tạo cảnh quan môi trường mà còn tạo nguồn sinh thủy cho đầu nguồn sông Mã, cấp nước, giữ nước, điều tiết nước, bảo vệ các công trình thủy lợi trong vùng.

Bài và ảnh: Thùy Dương

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh