Chuyển đến nội dung chính

Phá rừng để trồng rừng?

 Phá rừng tự nhiên là phạm pháp. Nhưng do người dân thiếu đất canh tác, nhiều hộ vẫn cố tình vi phạm...

Biết vi phạm nhưng vẫn phá

Gia đình anh Triệu Hữu Thắng, thôn Nà Cà, xã Quảng Bạch, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn có đồi xoan vừa khai thác xong. Sau khi khai thác, gia đình phát dọn để tiếp tục trồng rừng. Nhưng ngoài diện tích được phép phát thực bì, gia đình anh Thắng đã phá hơn 2.000m2 rừng tự nhiên ở ngay sát đó.

Tương tự như vậy, anh Hoàng Văn Chấn, thôn Bản Mạ, xã Quảng Bạch có bãi ngô ở gần nhà. Nhưng trong quá trình canh tác gia đình cũng phát, phá trái phép vào diện tích rừng tự nhiên để lấy đất trồng cây. Khu đất này đã giao cho gia đình quản lý nhiều năm nay, trước đây vẫn canh tác. Tuy nhiên, khi chính sách mới có hiệu lực, việc phát, phá vào rừng tự nhiên là vi phạm.

Tình trạng phá rừng tự nhiên tại Bắc Kạn diễn biến phức tạp. ảnh Ngọc Tú.

Tình trạng phá rừng tự nhiên tại Bắc Kạn diễn biến phức tạp. Ảnh: Ngọc Tú.

Ông Nông Văn Thẩm, Chủ tịch UBND xã Quảng Bạch (huyện Chợ Đồn) cho biết: Ngoài lực lượng kiểm lâm, xã đã thành lập tổ công tác đến từng thôn tuyên truyền việc phát, phá vào rừng tự nhiên là phạm  luật. Nhưng do người dân thiếu đất canh tác nhiều hộ vẫn cố tình vi phạm.

“Thực tế, hầu hết các hộ phá rừng trên chính đất rừng của mình trước đây vẫn canh tác. Những khu vực bị phát, phá thường liền khoảnh với bãi ngô, hay nương rẫy của người dân. Mục đích chính của người dân là lấy đất để trồng các loại cây lâm nghiệp như cây mỡ, cây quế, không có hiện tượng phá rừng để khai thác lâm sản”, ông Thẩm cho biết thêm.

Theo khảo sát của phóng viên Báo NNVN tại nhiều địa phương của tỉnh Bắc Kạn, phần lớn các vụ phá rừng tự nhiên xuất phát từ nhu cầu lấy đất để trồng rừng. Các vụ vi phạm diễn ra trên chính mảnh đất đã giao cho người dân quản lý. Rừng tự nhiên bị phá chủ yếu là rừng có trữ lượng gỗ thấp, lau lách, hoặc cây tái sinh có đường kính nhỏ.

Tại Bắc Kạn, phần lớn người dân nông thôn sống dựa vào trồng rừng. ảnh Ngọc Tú

Tại Bắc Kạn, phần lớn người dân nông thôn sống dựa vào trồng rừng. Ảnh: Ngọc Tú.

Người dân thiếu sinh kế…

Theo quy định, rừng sản xuất có hai loại là rừng trồng và rừng tự nhiên được quy hoạch là rừng sản xuất. Trước đây, rừng tự nhiên nghèo kiệt, người dân được cải tạo để trồng rừng mới. Năm 2017, Chính phủ cấm cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt, kể cả rừng tự nhiên đã được quy hoạch là rừng sản xuất. Do đó, tại Bắc Kạn có khoảng 160.000ha rừng tự nhiên được quy hoạch là rừng sản xuất thuộc diện phải bảo vệ nghiêm ngặt. Tại Bắc Kạn, hầu hết các vụ vi phạm thuộc rừng tự nhiên đã được quy hoạch là rừng sản xuất.

Thông tin từ Sở NN-PTNT Bắc Kạn cho biết, do thiếu nguồn lực, trong tổng số 160.000ha rừng tự nhiên được quy hoạch là rừng sản xuất mới có khoảng 16.000ha đã hỗ trợ kinh phí khoán bảo vệ cho người dân. Do đó, người dân sống gần rừng chưa được hưởng lợi nhiều, đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến việc bảo vệ rừng tự nhiên gặp khó khăn trong những năm gần đây.

Tỷ lệ che phù rừng của tỉnh Bắc Kạn đạt 73,4%, cao nhất cả nước. ảnh Ngọc Tú.

Tỷ lệ che phù rừng của tỉnh Bắc Kạn đạt 73,4%, cao nhất cả nước. Ảnh: Ngọc Tú.

Theo tìm hiểu của phóng viên Báo NNVN, do khó khăn về nguồn lực, trong năm 2021, tỉnh Bắc Kạn mới bố trí được kinh phí để chi trả tiền giao khoán bảo vệ đối với diện tích rừng tự nhiên thuộc các xã khu vực I (gần 8.000ha). Những diện tích đã giao khoán thuộc các xã khu vực II, khu vực III chưa có được kinh phí. Để khoán bảo vệ hết diện tích rừng tự nhiên cần khoảng 100 tỷ đồng/năm, đây là bài toán khó đối với tỉnh còn khó khăn như Bắc Kạn.

Thực hiện chính sách đóng cửa rừng, người dân được giao rừng tự nhiên không được cải tạo, khai thác, hoặc trồng mới nên thu nhập bấp bênh. Đa số người dân sống gần rừng kinh tế vẫn còn rất khó khăn, hộ nghèo, cận nghèo chiếm tỷ lệ cao. Trong khi kinh phí khoán bảo vệ thấp, hoặc chưa có, nên nhiều người dù biết vi phạm nhưng vẫn bất chấp phá rừng tự nhiên để lấy đất sản xuất.

Theo thống kê, 9 tháng của năm 2022, tỉnh Bắc Kạn xảy ra 338 vụ phá rừng trái phép (tăng 125 vụ so với cùng kỳ năm 2021), diện tích rừng bị thiệt hại hơn 89ha, tịch thu 548m3 gỗ các loại.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh