Chuyển đến nội dung chính

Ngành chế biến gỗ khốn khó bủa vây

 Xuất khẩu giảm mạnh, gỗ nhập khẩu khan hiếm, giá tăng vọt, ngành chế biến gỗ trông chờ cả vào gỗ rừng trồng, nhưng chẳng thể cạnh tranh với ngành chế biến dăm, viên nén…

Xuất khẩu khó khăn chồng chất

Qua khảo sát nhanh của Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam cùng Tổ chức Forest Trends, thực trạng của hoạt động sản xuất và xuất khẩu của các doanh nghiệp chế biến gỗ trong nước đang rất ảm đạm. Tất cả các thị trường nhập khẩu đồ gỗ truyền thống của ngành gỗ Việt Nam thời gian qua đều suy giảm nghiêm trọng. Trong đó, doanh thu tại thị trường Mỹ giảm đến 39,6%, thị trường EU giảm đến 41%, thị trường Anh giảm 43%...

Mặt hàng viên nén được đưa xuống Cảng Quy Nhơn để xuất khẩu. Ảnh: V.Đ.T.

Mặt hàng viên nén được đưa xuống Cảng Quy Nhơn để xuất khẩu. Ảnh: V.Đ.T.

Theo đó, đơn hàng mà các doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu nhận được của các thị trường lớn cũng giảm mạnh. Đơn hàng của thị trường Mỹ giảm 45,4%, thị trường EU giảm 44,6%, thị trường Anh giảm 47,3%, các thị trường khác như Singapore, Úc, Newzealand… giảm trên 36%. Dự báo đến cuối năm 2022, sẽ có 71% số doanh nghiệp chế biến gỗ bị giảm đơn hàng tại các thị trường lớn.

Theo ông Lê Minh Thiện, Phó Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, lượng đơn hàng của khách hàng nước ngoài thông thường triển khai vào tháng 3 hàng năm, nhưng đến nay vẫn chưa nhiều, hoặc chưa có đơn hàng. Một số doanh nghiệp hiện đã có đơn hàng đến cuối năm 2022, nhưng mùa hàng mới năm 2023 thì chưa có đơn hàng.

Các doanh nghiệp đã có đơn hàng sản xuất đến cuối năm 2022 cũng chẳng được yên tâm, bởi tình trạng khách hàng chậm xác nhận booking, kéo dài thời gian giao hàng, chậm thanh toán do tồn kho hàng tại các thị trường rất lớn, nguyên nhân do mặt hàng gỗ tiêu thụ chậm so với năm trước, bởi người tiêu dùng thắt chặt chi tiêu.

“Để đối phó với tình trạng khó khăn trên, nhiều doanh nghiệp hiện nay cho công nhân nghỉ ngày thứ 7, không cho công nhân làm tăng ca, mỗi tuần chỉ làm 5 ngày, mỗi ngày làm 8 tiếng. Trong thời gian này, hầu hết các doanh nghiệp đều sắp xếp tinh gọn bộ máy để giảm chi phí sản xuất, giảm giá thành sản phẩm để kích cầu, tập trung vào các dòng sản phẩm có giá trị cao hoặc có tính đặc thù để giảm năng lực cạnh tranh và ít bị biến động vì diễn biến của xu thế thế giới”, ông Lê Minh Thiện cho hay.

Chế biến viên nén, một trong những ngành hàng đang 'hút' hết gỗ rừng trồng trong nước. Ảnh: V.Đ.T.

Chế biến viên nén, một trong những ngành hàng đang "hút" hết gỗ rừng trồng trong nước. Ảnh: V.Đ.T.

Cạnh tranh nguyên liệu gay gắt

Cùng với khó khăn về thị trường tiêu thụ, các doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu hiện nay còn phải đối mặt với tình trạng khan hiếm nguồn gỗ nguyên liệu. Gỗ nguyên liệu nhập khẩu ngày càng khan hiếm bởi ảnh hưởng dịch Covid-19, ảnh hưởng giá nhiên liệu liên tục tăng cao khiến chuỗi cung ứng bị đứt gãy. 

Trong bối cảnh đó, hầu hết các doanh nghiệp chế biến gỗ đều “nương tựa” vào nguồn nguyên liệu gỗ rừng trồng trong nước. Trong khi đó, nguồn gỗ rừng trồng hiện đang bị các doanh nghiệp chế biến dăm và viên nén tranh mua với giá cao, khiến người trồng rừng khai thác cả rừng non để bán.

Nếu như năm 2021, gỗ keo lai trong nước chỉ có giá 1,1 triệu đồng/tấn thì bước sang năm 2022, giá gỗ rừng trồng có lúc đạt đỉnh 1,8 triệu đồng/tấn, hiện đang dao động bình quân 1,7 triệu đồng/tấn. Chỉ trong vòng 1 năm, gỗ nguyên liệu trong nước đã tăng đến gần 60%.

Trên địa bàn Bình Định hiện có 15 nhà máy chế biến dăm gỗ xuất khẩu với tổng công suất đạt trên 1 triệu tấn/năm. Ngoài những nhà máy chế biến dăm gỗ, hiện ở Bình Định còn có hàng chục nhà máy chế biến viên nén, nguyên liệu đầu vào của các mặt hàng nói trên hầu hết là gỗ rừng trồng. Trên địa bàn Bình Định hiện nay có 128.510ha rừng trồng sản xuất, mỗi năm khai thác và trồng lại khoảng 8.500ha, sản lượng đạt từ 1 - 1,2 triệu tấn gỗ nguyên liệu. Trong bối cảnh dăm gỗ và viên nén đang xuất khẩu mạnh, các nhà máy chế biến phải tranh nhau mua gỗ nguyên liệu để đảm bảo sản xuất.

Gỗ rừng trồng được sử dụng làm nguyên liệu chế biến gỗ phải có đường kính lớn. Ảnh: V.Đ.T.

Gỗ rừng trồng được sử dụng làm nguyên liệu chế biến gỗ phải có đường kính lớn. Ảnh: V.Đ.T.

Chạy theo giá, những hộ trồng rừng đang đổ xô khai thác rừng non để bán. Độ tuổi khai thác gỗ rừng trồng bị đẩy xuống dưới 3 năm, đường kính gỗ khai thác dưới 10cm, dẫn đến chất lượng gỗ giảm đến mức tồi tệ, do có độ ẩm cao, thiếu hàm lượng xenlulo, cây gỗ cong queo, nhiều mắt, tỷ trọng gỗ sau sấy rất thấp, chỉ dưới 400kg/m3. Nhiều diện tích rừng trồng đang trong độ tuổi tăng trưởng nhanh đã bị khai thác sớm, làm ảnh hưởng đến môi trường, độ màu mỡ đất.

Theo ông Lê Minh Thiện, Phó Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, các doanh nghiệp chế biến dăm gỗ, viên nén đổ xô cạnh tranh mua gỗ nguyên liệu đã đẩy giá gỗ lên cao bất hợp lý, khiến cho ngành chế biến gỗ, ván ghép thanh, gỗ dán... bị thiếu hụt nghiêm trọng nguồn gỗ nguyên liệu từ gỗ rừng trồng trong nước.

Các nhà máy sản xuất giấy của Trung Quốc được đầu tư công suất lớn, sản lượng đạt hàng triệu tấn bột giấy và giấy mỗi năm nằm gần biên giới Việt Nam, đây là áp lực lớn cho ngành chế biến gỗ nước ta, bởi các nhà máy sản xuất giấy của Trung Quốc “hút” hết nguồn gỗ nguyên liệu của Việt Nam.

Viên nén và dăm gỗ đang được xuất khẩu rất mạnh, nảy sinh cạnh tranh thu mua nguyên liệu với các doanh nghiệp chế biến gỗ. Ảnh: V.Đ.T.

Viên nén và dăm gỗ đang được xuất khẩu rất mạnh, nảy sinh cạnh tranh thu mua nguyên liệu với các doanh nghiệp chế biến gỗ. Ảnh: V.Đ.T.

“Để nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng gỗ lớn, chính quyền các địa phương cần tuyên truyền, vận động doanh nghiệp, hộ gia đình không khai thác gỗ rừng trồng sớm để bán gỗ non thông qua các quy định, chế tài chặt chẽ. Các hiệp hội, doanh nghiệp ngành gỗ cần thống nhất định hướng ngăn chặn tình trạng khai thác gỗ rừng trồng sớm, mua bán gỗ non để giữ được sự phát triển cân bằng, hài hòa giữa các nhóm ngành hàng gỗ, bảo vệ hình ảnh và uy tín ngành gỗ trong tương lai”, ông Lê Minh Thiện, Phó Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam đề nghị.

Cần ngân hàng "hà hơi tiếp sức"

Dự báo tình hình xuất khẩu đồ gỗ từ nay đến cuối năm rất ảm đạm, dẫn tới các doanh nghiệp phải lưu kho, vốn liếng của doanh nghiệp bị “chôn” hết vào hàng lưu kho. Thực trạng này khiến doanh nghiệp phải cần có nhiều vốn để mua nguyên liệu chuẩn bị cho mùa hàng mới, không đứt gãy chuỗi sản xuất. Do đó, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Bình Định đã cùng Ngân hàng tổ chức hội thảo, cùng nhau nhìn nhận tổng quan thị trường ngành gỗ trong nước và quốc tế, đánh giá các vấn đề liên quan đến chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị; phân tích bối cảnh xuất nhập khẩu gỗ hiện tại cũng như cơ hội và thách thức đối với ngành gỗ Việt Nam trong trung hạn, từ đó, đã đưa ra giải pháp tài chính và phi tài chính nhằm hỗ trợ doanh nghiệp.

Doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu hiện rất cần vốn để lưu kho hàng hóa, mua nguyên liệu dự trữ cho mùa hàng mới. Ảnh: V.Đ.T.

Doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu hiện rất cần vốn để lưu kho hàng hóa, mua nguyên liệu dự trữ cho mùa hàng mới. Ảnh: V.Đ.T.

Khó đạt mục tiêu xuất khẩu

Theo Tổng cục Hải quan, 6 tháng đầu năm 2022, trị giá xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 8,4 tỷ USD, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm 2021. Tuy nhiên, xuất khẩu sản phẩm gỗ chỉ đạt 6,06 tỷ USD, giảm 5,8% so với cùng kỳ năm 2021.

Theo thông lệ, nửa cuối năm xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ thường cao hơn so với đầu năm do nhu cầu hoàn thiện, sửa sang, trang trí lại nội thất tăng cao. Tuy nhiên đối mặt với tình trạng lạm phát đang gia tăng mạnh tại các thị trường xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ chính của Việt Nam là Mỹ và các nước EU, khiến cho người dân ở các quốc gia này có xu hướng thắt chặt hơn chi tiêu, đặc biệt là đối với các mặt hàng không thiết yếu, dẫn tới nhu cầu nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ giảm.

Cùng với đó, xung đột quân sự giữa Nga và Ukraine chưa có dấu hiệu chấm dứt, đẩy giá xăng dầu tăng cao trong nửa đầu năm và chưa có dấu hiệu dừng lại. Do đó, chi phí của doanh nghiệp có thể sẽ tiếp tục tăng lên, ảnh hưởng đến giá bán và sức cạnh tranh của sản phẩm. Dự báo xuất khẩu của ngành gỗ trong nửa cuối năm vẫn còn nhiều thách thức và khó hoàn thành mục tiêu xuất khẩu 16,5 tỷ USD trong năm 2022.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh