Chuyển đến nội dung chính

“Lá phổi xanh” ở Vị Xuyên

 BHG - Phát triển lâm nghiệp bền vững đi đôi với trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng (BVR), bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu, tạo sinh kế, nâng cao thu nhập cho người dân… là mục tiêu hướng đến để phát triển lâm nghiệp bền vững ở Vị Xuyên.

Cán bộ, đảng viên giúp nhân dân xã Thanh Thủy trồng rừng kinh tế.
Cán bộ, đảng viên giúp nhân dân xã Thanh Thủy trồng rừng kinh tế.

Nhiều năm nay, gia đình ông Bàn Văn Tràng, thôn Khuổi Luông, xã Cao Bồ (Vị Xuyên) tận dụng lợi thế đất lâm nghiệp rộng lớn của gia đình để trồng Quế. Năm 2021, ông Tràng bán các sản phẩm từ Quế thu được trên 150 triệu đồng. Ông Tràng chia sẻ: “Cây Quế dễ trồng, sinh trưởng và phát triển tốt, những năm gần đây, giá Quế tăng, người dân Cao Bồ tập trung trồng nhiều Quế, chú trọng chăm sóc theo quy trình kỹ thuật, những rừng Quế đang phủ xanh trên khắp các đồi núi, tạo sinh kế và giúp người dân nâng cao thu nhập”.

Nhận thức rõ công tác bảo vệ và phát triển rừng có tầm quan trọng đối với sự phát  triển KT - XH của địa phương, huyện Vị Xuyên luôn quan tâm, chú trọng trồng, quản lý và BVR gắn với tạo sinh kế cho người dân. Toàn huyện hiện có trên 103.973 ha đất lâm nghiệp, chiếm gần 68% tổng diện tích đất tự nhiên, trong đó: Rừng sản xuất trên 54.735 ha; rừng phòng hộ trên 24 nghìn ha; rừng đặc dụng trên 24 nghìn ha; rừng ngoài quy hoạch lâm nghiệp gần 835 ha. Diện tích rừng trồng sản xuất hiện có trên 11.923 ha, hàng năm trồng rừng sản xuất được trên 1.000 ha; diện tích khai thác rừng trồng sản xuất trung bình từ 200 – 300 ha/năm, sản lượng gỗ khai thác bình quân đạt 45 – 50 m3/ha, lợi nhuận đạt 45 - 50 triệu đồng/ha; toàn huyện có trên 12.000 hộ sống bằng nghề rừng. Các loại cây trồng chính như: Keo, Bồ đề, Mỡ, Quế, Thông, Sa mộc, trong đó rừng Keo chiếm khoảng 70% tổng diện tích rừng trồng toàn huyện. Việc sử dụng giống tốt, chất lượng vào trồng rừng và chăm sóc theo đúng quy trình kỹ thuật giúp rừng phát triển tốt. Công tác quản lý, BVR và phòng cháy, chữa cháy rừng được chú trọng, không để xảy ra các vụ phá rừng, cháy rừng nghiêm trọng, ý thức trồng và BVR của người dân nâng lên. Rừng thực sự là “Lá phổi xanh”, bảo vệ hệ sinh thái, phòng chống thiên tai và tạo nhiều sinh kế, giải quyết việc làm, giúp người dân nâng cao thu nhập.

Tuy nhiên, trong phát triển lĩnh vực Lâm nghiệp của huyện còn bộc lộ một số hạn chế: Vẫn xảy ra tình trạng chặt phá, khai thác rừng trái phép tại các khu rừng đặc dụng Phong Quang, Minh Tân; tình trạng lấn chiếm, phá rừng lấy đất sản xuất, lấy củi, cháy rừng vẫn còn; việc áp dụng giống mới, chất lượng và kỹ thuật thâm canh vào trồng rừng chưa nhiều; giá trị rừng trồng và hiệu quả kinh tế từ rừng chưa tương xứng với tiềm năng; trên địa bàn chưa có doanh nghiệp lớn tham gia trồng rừng và chế biến, tiêu thụ sản phẩm lâm nghiệp.

Để tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, nâng cao hiệu quả công tác  bảo vệ và phát triển rừng bền vững, không để xảy ra mất rừng, cháy rừng, các điểm nóng về khai thác, chặt phá, lấn chiếm rừng trái phép, tạo sinh kế cho người dân, nâng cao giá trị kinh tế rừng, BCH Đảng bộ huyện Vị Xuyên khóa XXIV ban hành Nghị quyết số 13 về phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2021 - 2025 với mục tiêu: Trồng mới rừng sản xuất và trồng rừng sau khai thác đạt 5.000 ha; tăng tỷ lệ sử dụng giống tốt vào trồng rừng lên 50%. Đến năm 2025, có 33,5 % diện tích rừng trồng sản xuất được áp dụng kỹ thuật thâm canh; duy trì ổn định độ che phủ rừng đạt 70,5% trở lên. Đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, phấn đấu đưa ngành Lâm nghiệp trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, huyện Vị Xuyên huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc; các Chi, Đảng bộ xây dựng chương trình hành động, nghị quyết chuyên đề về phát triển lâm nghiệp; thực hiện tốt quản lý, BVR theo hướng nâng cao chất lượng và giá trị của rừng, bảo vệ môi trường sinh thái, ứng phó biến đối khí hậu; cơ cấu lại giống cây trồng, áp dụng các biện pháp, quy trình kỹ thuật vào trồng, chăm sóc, khai thác rừng trồng; đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, nâng cao nhận thức cho người dân; quy hoạch phân vùng sản xuất các loại cây lâm nghiệp, vùng nguyên liệu và hệ thống cơ sở chế biến lâm sản; ban hành cơ chế, thu hút, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào chế biến lâm sản; đẩy mạnh liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị; huy động và lồng ghép các nguồn vốn và  thực hiện hiệu quả các chính sách ưu đãi, hỗ trợ của T.Ư, tỉnh cho phát triển rừng bền vững.

     Bài, ảnh: Biện Luân

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh