Chuyển đến nội dung chính

Đẩy mạnh cấp chứng chỉ rừng bền vững theo mô hình nhóm

 Dựa trên điều kiện sản xuất lâm nghiệp trong thực tiễn, VFCO khuyến cáo tăng cường liên kết, nhất là với các chủ rừng nhỏ để nâng cao nhận thức cho người dân.

GS.TS. Võ Đại Hải, Giám đốc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam phát biểu khai mạc hội thảo sáng 10/10.

GS.TS. Võ Đại Hải, Giám đốc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam phát biểu khai mạc hội thảo sáng 10/10.

Giảm chi phí, tăng lợi ích

Phát biểu tại Hội thảo Thúc đẩy quản lý rừng bền vững ở Việt Nam, TS. Nguyễn Văn Bích, Văn phòng Văn phòng Chứng chỉ Quản lý rừng bền vững (VFCO) nhấn mạnh tới lợi ích của chứng chỉ VFCS/PEFC có thể áp dụng theo nhóm.

“Chứng chỉ cấp cho nhóm giúp tiết kiệm chi phí tư vấn, đánh giá. Đồng thời chủ rừng khi tham gia còn nhận ưu đãi từ các chuỗi cung ứng vật tư, cũng như tiếp cận vốn vay, tín dụng dễ hơn. Đây là cơ sở để người dân góp phần tạo vùng nguyên liệu lớn, liên kết sản xuất theo chuỗi, và tiếp cận thị trường dễ dàng”, ông Tiệp chia sẻ.

Ông Nguyễn Hoàng Tiệp, Phó Giám đốc VFCO nói thêm, rằng chứng chỉ VFCS/PEFC được xây dựng dựa theo Hệ thống chứng chỉ rừng quốc tế PEFC. Đây là một tổ chức toàn cầu, có 55 quốc gia thành viên và dựa trên các tiêu chuẩn của ISO về quản lý chất lượng.

Đặc biệt, khi tham gia PEFC, mỗi quốc gia sẽ tự xây dựng và có một hệ thống duy nhất về quản lý rừng bền vững và phù hợp với điều kiện tự nhiên, miễn là tuân thủ tiêu chuẩn của PEFC.

ThS. Nguyễn Hoàng Tiệp chia sẻ về hệ thống quản lý chứng chỉ rừng bền vững.

ThS. Nguyễn Hoàng Tiệp chia sẻ về hệ thống quản lý chứng chỉ rừng bền vững.

Việt Nam hiện có 1,7 triệu ha rừng trồng, với 2 triệu hộ gia đình cá nhân. Diện tích trung bình của mỗi hộ khoảng 2-3 ha. Do đó, VFCS/PEFC được xây dựng để phù hợp với các chủ rừng nhỏ - đối tượng chủ yếu của ngành lâm nghiệp nước ta.

“Cách tiếp cận của VFCS/PEFC theo hướng từ dưới lên và xuất phát từ vùng nguyên liệu. Điều này phù hợp với thực tiễn của nền sản xuất lâm nghiệp Việt Nam”, ông Tiệp nói tiếp.

Nêu thực trạng tại một số nước phương Tây, nơi mỗi nhóm được cấp chứng chỉ rừng có tới hàng trăm thành viên, lãnh đạo VFCO khẳng định, VFCS hướng đến việc đảm bảo gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam sẽ tiếp cận thị trường quốc tế.

Bên cạnh mục tiêu nâng cao thu nhập cho các chủ rừng và giá trị gia tăng cho ngành lâm nghiệp, VFCS/PEFC còn góp phần bảo tồn đa dạng sinh học, duy trì và nâng cao dịch vụ hệ sinh thái, giảm nhẹ và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Tại Việt Nam, hiện 120.000 ha được chứng nhận quản lý rừng bền vững và 48 chứng chỉ PEFC CoC. Để nâng cao hơn nữa công tác quản lý rừng cũng như đạt 500.000 ha rừng được cấp chứng chỉ vào 2025, ThS. Tiệp đề nghị đẩy mạnh công tác cấp chứng chỉ theo nhóm. Một số giải pháp được ông đưa ra, gồm nâng cao năng lực quản lý của nhóm, đề cao trách nhiệm của chủ thể nhóm, cũng như phân công cụ thể công việc cho từng thành viên.

“VFCO sẵn sàng hỗ trợ việc cấp phép sử dụng logo cho các tổ chức, cá nhân để tăng cường quảng bá, thông tin cho cho hoạt động quản lý rừng bền vững tại Việt Nam. Chúng ta cần chung tay để hàng hóa dán nhãn VFCS/PEFC được xuất hiện ngày càng nhiều trên thị trường thế giới”, ông Tiệp nhấn mạnh.

Chứng chỉ VFCS/PEFC được định hướng xây dựng từ dưới lên, nhằm hỗ trợ các chủ rừng nhỏ.

Chứng chỉ VFCS/PEFC được định hướng xây dựng từ dưới lên, nhằm hỗ trợ các chủ rừng nhỏ.

Tăng cường liên kết doanh nghiệp

Từ tháng 10/2021, VFCO được bàn giao về Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam. GS.TS. Võ Đại Hải, Giám đốc Viện cho biết, từ khi thành lập, Văn phòng đã luôn phối hợp chặt chẽ với Tổng cục Lâm nghiệp, PEFC để thúc đẩy quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng ở Việt Nam thông qua Dự án “Lâm nghiệp và Thương mại để phát triển trong khu vực ASEAN” (FOR-TRADE).

Trong những hoạt động chính của dự án tại Việt Nam, FOR-TRADE dành nhiều nguồn lực để hỗ trợ chủ rừng nhỏ tại một số tỉnh miền Trung để thực hiện chứng chỉ theo VFCS/PEFC.

Nhờ được tập huấn kỹ thuật thường xuyên, tạo liên kết với doanh nghiệp, 1.000 ha rừng của 5 HTX đã được chứng nhận quản lý rừng bền vững theo nhóm. FOR-TRADE cũng hình thành cơ bản các tổ chức nhóm tại cấp xã. Điển hình là việc hỗ trợ giống và sản xuất cây giống tại HTX Hòa Phát, tỉnh Quảng Ngãi.

Bốn bước để thực hiện chứng chỉ rừng theo nhóm gồm: Hình thành liên kết; Nâng cao năng lực; Thực hiện quản lý rừng bền vững; Cấp chứng chỉ. Riêng khâu cuối, các chủ rừng được khuyến cáo phải chuẩn bị hồ sơ đầy đủ, lựa chọn tổ chức cấp chứng chỉ và duy trì.

Ông Nguyễn Văn Diện, đại diện Tổng cục Lâm nghiệp, hứa hỗ trợ các chủ rừng khi quản lý rừng theo hướng bền vững.

Ông Nguyễn Văn Diện, đại diện Tổng cục Lâm nghiệp, hứa hỗ trợ các chủ rừng khi quản lý rừng theo hướng bền vững.

Dù được xác định là góp phần xây dựng, phát triển ngành lâm nghiệp một cách bền vững, quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng còn gặp một số rào cản như: sự tham gia của doanh nghiệp liên kết còn hạn chế, chi phí cấp và duy trì chứng chỉ khá cao, năng lực của chủ rừng chưa đạt kỳ vọng.

Đánh giá cao nỗ lực của VFCO và Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam thời gian qua trong việc quản lý chứng chỉ rừng bền vững, ông Nguyễn Văn Diện, Vụ trưởng Vụ Phát triển sản xuất lâm nghiệp, Tổng cục Lâm nghiệp cho rằng các bên cần lắng nghe và hỗ trợ tối đa cho các chủ rừng, nhất là các chủ rừng nhỏ bởi đây là thành phần yếu thế của xã hội.

“Việc hướng dẫn, cấp và quản lý chứng chỉ hiện theo hướng tự nguyện. Do đó, chúng ta cần lắng nghe tín hiệu và nhu cầu thị trường. Để có thể sớm hình thành chuỗi giá trị bền vững, ngoài đẩy mạnh công nghệ, giảm tiêu tốn ngồn nhân lực, các chủ rừng cần được hỗ trợ trong việc tiếp cận, liên kết với doanh nghiệp”, ông Diện bày tỏ.

Tại hội thảo, đại diện Hội Chủ rừng Việt Nam cho biết, trong khoảng 400 hội viên đang sinh hoạt, thành phần chủ yếu là cá nhân, hộ sản xuất cá thể nằm rải rác tại 12 tỉnh. Vị này mong muốn, VFCO nghiên cứu cơ chế, chính sách để vừa tăng diện tích rừng được cấp chứng chỉ, vừa giảm chi phí cho người dân.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh