Chuyển đến nội dung chính

Trung Quốc là một trong những thị trường quan trọng của gỗ Việt Nam

 Trung Quốc là một trong 5 thị trường xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất của Việt Nam. Đây cũng thị trường cung cấp gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất của Việt Nam.

Xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đến thị trường Nhật Bản: Tận dụng cơ hội từ các FTAThị trường Trung Quốc tăng nhập khẩu trái chuối từ Việt Nam

Chiều 10/6, các hội, hiệp hội ngành gỗ tổ chức Hội thảo trao đổi giữa các doanh nghiệp gỗ Việt Nam - Trung Quốc nhằm tìm hiểu thị trường và tối đa hóa cơ hội.

Việt Nam duy trì thặng dư thương mại gỗ với thị trường Trung Quốc

Theo báo cáo của nhóm nghiên cứu các hội, hiệp hội ngành gỗ và Tổ chức Forest Trends, Trung Quốc là một trong 5 thị trường xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất của Việt Nam và trong những năm gần đây luôn đứng ở vị trí thứ 2 hoặc thứ 3 xét về mặt kim ngạch. Xuất khẩu gỗ của Việt Nam sang Trung Quốc chiếm 10-12% tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam

Việt Nam chủ yếu xuất khẩu gỗ nguyên liệu (HS44) sang Trung Quốc với hơn 20 sản phẩm. Xuất khẩu các sản phẩm theo HS44 chiếm hơn 80% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc. Trong đó, gỗ dăm chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng năm của Việt Nam sang Trung Quốc. Trong khi đó, xuất khẩu sản phẩm gỗ (mã HS94) chiếm dưới 20% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc.

Năm 2021, xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc là 1,49 tỷ USD với sự tham gia của hơn 500 doanh nghiệp
Năm 2021, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc là 1,49 tỷ USD với sự tham gia của hơn 500 doanh nghiệp

Ở chiều ngược lại, Trung Quốc là nguồn cung gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất của Việt Nam. Nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc chiếm 25 - 37% tổng nhập khẩu hàng năm của Việt Nam. Việt Nam nhập khẩu hơn 20 sản phẩm từ Trung Quốc, nhưng chủ yếu là các sản phẩm thuộc HS44. Mã nhập khẩu HS44 và HS94 của Việt Nam từ Trung Quốc đã tăng đều đặn trong những năm qua. Trong đó, nhập khẩu HS44 từ Trung Quốc lớn hơn nhiều so với nhập khẩu các sản phẩm gỗ (HS94) theo giá trị (nhập khẩu HS44 chiếm 65 - 88% trong tổng số).

“Việt Nam duy trì thặng dư thương mại gỗ với Trung Quốc nhưng nhập khẩu của Việt Nam tăng nhanh hơn xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc. Thặng dư thương mại chủ yếu đến từ dăm gỗ”, ông Nguyễn Vinh Quang - Chuyên gia phân tích chính sách Tổ chức Forest Trends nhận định.

Về vốn đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam, báo cáo cho hay, tổng vốn đầu tư của Trung Quốc vào ngành gỗ Việt Nam tương đối cao, chiếm 17% - 35% tổng vốn đầu tư từ các nguồn trong ngành. Trong đó, năm 2019 là năm có số dự án đăng ký mới và tổng vốn đăng ký cấp mới cao nhất. Các dự án đăng ký mới của Trung Quốc chiếm từ 14% - 36% tổng số dự án FDI đăng ký mới đầu tư vào ngành gỗ của Việt Nam tính theo giá trị; và 35% - 56% theo số lượng dự án.

Trong 3 tháng đầu năm 2022, nguồn vốn đầu tư của Trung Quốc giảm vốn với giá trị giảm rất nhỏ (22,3 nghìn USD). Số lần điều chỉnh vốn của các doanh nghiệp Trung Quốc chiếm 30% - 36% tổng số lần điều chỉnh của tất cả các doanh nghiệp FDI đầu tư vào ngành gỗ của Việt Nam. Vốn điều chỉnh (tăng) của các doanh nghiệp Trung Quốc chủ yếu tương đương từ khoảng 20% - 47% tổng vốn điều chỉnh của tất cả các doanh nghiệp FDI đầu tư vào ngành gỗ của Việt Nam, đặc biệt năm 2017 là 55% và năm 2019 chỉ hơn 5%.

Số lần mua bán và sáp nhập (M&A) cũng như giá trị M&A của các doanh nghiệp Trung Quốc là cao nhất vào năm 2019. Năm 2020 và 2021 có xu hướng giảm dần. Tỷ lệ thời gian M&A của các doanh nghiệp Trung Quốc chiếm 13% - 42% tổng số lần M&A của các doanh nghiệp FDI trên toàn quốc trong ngành gỗ của Việt Nam. Tỷ lệ vốn M&A của các doanh nghiệp Trung Quốc chiếm 6% - 35% tổng vốn M&A của các doanh nghiệp FDI trên toàn quốc trong ngành gỗ của Việt Nam.

Cùng nhau hướng tới xây dựng thương mại ngành gỗ có trách nhiệm

Tại hội thảo, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, Hiệp hội Lâm sản Trung Quốc, Hiệp hội Phân phối gỗ và sản phẩm gỗ Trung Quốc đã cùng nhau giới thiệu về đơn vị mình. Đồng thời, cùng nhau thảo luận về những thuận lợi và khó khăn trong quan hệ thương mại gỗ hiện nay giữa hai nước; cơ hội cho việc mở rộng thương mại/đầu tư bền vững; rủi ro thị trường liên quan đến thương mại gỗ giữa 2 bên và cơ chế giảm thiểu rủi ro; hợp tác trong tương lai giữa hiệp hội gỗ hai nước nhằm đẩy mạnh thương mại và giảm thiểu rủi ro thị trường và cùng nhau hướng tới xây dựng thương mại ngành gỗ có trách nhiệm.

Khẳng định Trung Quốc là một trong những thị trường rất quan trọng ở cả chiều xuất khẩu và nhập khẩu gỗ và lâm sản Việt Nam, ông Cao Chí Công - Phó Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam kỳ vọng, thông qua hội thảo, cộng đồng doanh nghiệp 2 nước có những kiến nghị với Chính phủ, cơ quan quản lý để có những hỗ trợ doanh nghiệp hướng tới sản xuất, kinh doanh bền vững, hiệu quả, theo đúng quy định pháp luật của Nhà nước, đúng thông lệ quốc tế, ngăn chặn tình trạng hiểu lầm về một số biểu hiện như: không sử dụng gỗ bất hợp pháp; không lẩn tránh thuế, không gian lận xuất xứ. Đây là một trong những quy định mà Chính phủ Việt Nam yêu cầu các doanh nghiệp phải chấp hành.

Bà Hải Linh - Học viện Lâm nghiệp Trung Quốc - khẳng định: "Việt Nam là thị trường quan trọng của gỗ Trung Quốc. Cùng với việc tuân thủ các quy định pháp lý, thiết lập mối quan hệ, thiết lập các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát rủi ro, cải thiện tốt hơn chuỗi cung ứng,... chúng tôi cũng mong muốn có sự hợp tác chặt chẽ với các doanh nghiệp gỗ Việt Nam".

Theo ông Tô Xuân Phúc - Chuyên gia phân tích chính sách Tổ chức Forest Trends, Trung Quốc là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai hoặc thứ ba của Việt Nam và thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam. Hầu hết các sản phẩm được giao dịch đều thuộc mã HS44. Bên cạnh đó, các công ty Trung Quốc đã và đang đầu tư đáng kể vào ngành công nghiệp gỗ của Việt Nam. Doanh nghiệp Việt Nam có mong muốn tìm hiểu sâu hơn về thị trường gỗ và sản phẩm gỗ của Trung Quốc. Do đó, việc trao đổi giữa các doanh nghiệp gỗ đóng vai trò quan trọng trong việc tạo thuận lợi cho thương mại giữa hai nước.

"Mặc dù quy mô thương mại gỗ 2 nước rất lớn nhưng sự hiểu biết của doanh nghiệp gỗ Việt Nam về quy định thị trường và động lực phát triển thị trường Trung Quốc trong tương lai còn khiêm tốn và ở chiều ngược lại các doanh nghiệp Trung Quốc cũng chưa có nhiều hiểu biết về luồng cung gỗ ở Việt Nam. Do đó, chúng tôi kỳ vọng hiệp hội gỗ 2 nước sẽ có những hợp tác để cùng nhau đóng góp cho sự bền vững cho ngành gỗ 2 quốc gia", ông Tô Xuân Phúc cho biết thêm.

Ông Cao Chí Công - Phó Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam

Năm 2021, Việt Nam đã xuất khẩu hơn 14 tỷ USD sản phẩm gỗ, trong đó, xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc là 1,49 tỷ USD với sự tham gia của hơn 500 doanh nghiệp. Có nhiều loại sản phẩm gỗ được xuất khẩu sang thị trường này, trong đó, sản phẩm chính được xuất khẩu là dăm gỗ, các loại ván nhân tạo, đồ gỗ nội thất và ngoại thất.

Ở chiều ngược lại, năm 2021, Việt Nam chi hơn 2,5 tỷ USD nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ, trong đó, riêng thị trường Trung Quốc, con số này đạt 1,1 tỷ USD với khoảng hơn 1.000 doanh nghiệp tham gia, trong số đó có cả các doanh nghiệp nhập khẩu sản phẩm phụ trợ ngành gỗ.

Nguyễn Hạnh

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l