Chuyển đến nội dung chính

Trồng rừng gỗ lớn - Nhìn xa để thắng lớn

 

Việt Nam là một trong những quốc gia hàng đầu thế giới về sản xuất, chế biến đồ gỗ. Đây là môi trường lý tưởng cho ngành trồng rừng, một trong những ngành gắn liền với sự phát triển bền vững vùng đồng bào DTTS. Tuy nhiên, hiện nay, ngành trồng rừng mới chỉ chú trọng tới các loại gỗ có kích thước nhỏ để sản xuất dăm gỗ, ván gỗ. Lĩnh vực trồng cây gỗ lớn dường như đang bị bỏ ngỏ.

Gỗ nguyên liệu ở Việt Nam chủ yếu để sản xuất gỗ ván, gỗ ép
Gỗ nguyên liệu ở Việt Nam chủ yếu để sản xuất gỗ ván, gỗ ép

Dư địa cho lĩnh vực gỗ lớn

Bà Đỗ Thị Bạch Tuyết, Phó Chủ tịch HĐQT Công ty CP Woodsland cho biết: "Hiện nay, doanh thu từ xuất khẩu gỗ của Công ty đạt trên 100 triệu USD/năm. Do đó, nhu cầu về nguyên liệu gỗ của Công ty rất lớn, mỗi năm cần khoảng 3 triệu m3 gỗ keo nguyên liệu. Hiện, Công ty đã hợp tác với 5 sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) để xây dựng vùng nguyên liệu có chứng chỉ FSC (một tiêu chuẩn tự nguyện nhằm hỗ trợ quản lý rừng có trách nhiệm trên phạm vi toàn cầu) với khoảng 1.000 ha.

Ngoài ra, Công ty cũng phối hợp với nông dân tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang trồng 1.500 ha rừng có chứng chỉ FSC. Mục tiêu của công ty là liên kết với nông dân và các hợp tác xã trồng rừng gỗ lớn (từ 7 năm trở lên, gỗ có đường kính 15 cm trở lên là gỗ lớn) để phục vụ sản xuất, chế biến. Một trong những ưu tiên của Công ty là phát triển nguồn nguyên liệu trong nước. Tuy nhiên, với hiện trạng trồng rừng trong nước như hiện nay, vẫn chưa đáp ửng đủ nhu cầu của Công ty.

Còn ông Nguyễn Văn Diện, Vụ trưởng Vụ Phát triển sản xuất Lâm nghiệp, Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ NN&PTNT cho biết: Cả nước hiện có 5.580 doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, chế biến gỗ và lâm sản, thu hút khoảng 500.000 lao động. Trong đó, có 2.600 doanh nghiệp xuất khẩu trực tiếp, tập trung nhiều nhất tại khu vực Đông Nam bộ, khu vực Đồng bằng sông Hồng, Nam Trung bộ và Đông Bắc bộ.

Như vậy, có thể thấy nhu cầu về gỗ nguyên liệu của Việt Nam là rất lớn. Tuy nhiên, hiện nay tồn tại một nghịch lý là mặc dù gỗ nguyên liệu trong nước đáp ứng gần 80% nhu cầu sản xuất, chế biến, song gần 70% là gỗ có kích thước nhỏ, chỉ sản xuất các sản phẩm như dăm gỗ, các loại ván nhân tạo. Chúng ta đang rất yếu và rất thiếu nguyên liệu từ gỗ lớn.

Việt Nam cần có chính sách thúc đẩy trồng cây gỗ lớn
Việt Nam cần có chính sách thúc đẩy trồng cây gỗ lớn

Cần khuyến khích trồng cây gỗ lớn

Một trong những rào cản không hề nhỏ hiện nay của người dân khi tham gia trồng cây gỗ lớn, là khó khăn trong tiếp cận tài chính. Trong khi đó, việc trồng rừng gỗ lớn đòi hỏi thời gian dài. Cùng với đó, chính sách thu mua gỗ có chứng chỉ của một số doanh nghiệp còn bất cập so với giá gỗ chưa có chứng chỉ (chưa có nhiều sự khác biệt) nên chưa khuyến khích được người dân trồng rừng gỗ lớn, gỗ có chứng chỉ. Để có nguồn nguyên liệu gỗ lớn từ rừng trồng, rất cần Nhà nước có nguồn vốn ưu đãi cho người trồng rừng, công ty lâm nghiệp. Bên cạnh việc hỗ trợ nguồn vốn, việc tuyên truyền để người dân hiểu ý nghĩa và giá trị kinh tế từ việc trồng rừng gỗ lớn cũng cần phải đẩy mạnh.

Nguyên Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Hà Công Tuấn, người có nhiều năm gắn bó với ngành Lâm nghiệp, cho biết: Diện tích rừng sản xuất của Việt Nam hiện khoảng 3,7 triệu ha. Khả năng tăng diện tích đất rừng trồng sản xuất ở nước ta không còn nhiều.

Tuy nhiên, chúng ta vẫn có rất nhiều dư địa để tăng sản lượng gỗ rừng trồng, nếu kéo dài chu kỳ (10 - 15 năm). Nếu chúng ta làm tốt, thì đến năm 2030 sẽ có khoảng 60 - 70 triệu m3 gỗ nguyên liệu từ rừng trồng tập trung. Ngoài ra, chúng ta còn nguồn gỗ từ cây cao su, từ cây trồng phân tán...

Vì vậy, Bộ NN&PTNT cần sớm có đề án bài bản về phát triển nguồn gỗ nguyên liệu để trình Thủ tướng Chính phủ. Cùng với đó, rất cần sự liên kết giữa nông dân, doanh nghiệp, chính quyền địa phương, Bộ NN&PTNT. Nước ta hiện có 1,1 triệu hộ nông dân trồng rừng, nhưng không có hợp tác xã thì không thể liên kết được với nông dân, người trồng rừng để xây dựng vùng nguyên liệu, đáp ứng yêu cầu, sản xuất chế biến.

Các loại gỗ rừng trồng (rừng sản xuất) của Việt Nam hiện nay có cây keo, bạch đàn: 2,59 triệu ha, chiếm 70% tổng diện tích rừng trồng sản xuất; mỡ, bồ đề, tràm: 740.000 ha, chiếm 20% tổng diện tích rừng trồng sản xuất. Các loài cây khác có chu kỳ khai thác trên 10 năm (thông, lát, xoan và các loài cây bản địa khác) khoảng 370.000 ha, chiếm khoảng 10% tổng diện tích rừng trồng sản xuất. Về phát triển rừng trồng gỗ lớn cả nước, hiện mới chỉ khoảng 489.016 ha, trong đó diện tích rừng trồng có chứng nhận quản lý rừng bền vững là 290.500 ha.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh