Chuyển đến nội dung chính

Sớm có giải pháp để xây dựng vùng nguyên liệu gỗ phục vụ sản xuất, chế biến

 

Chiều 22-4, tại TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, Hiệp hội gỗ và Lâm sản tỉnh Bình Định phối hợp tổ chức Hội nghị phát triển vùng nguyên liệu phục vụ gỗ phục vụ ngành công nghiệp chế biến, xuất khẩu.

Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT tại hội nghị, hiện cả nước có 5.580 doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, chế biến gỗ và lâm sản, bao gồm 4.760 doanh nghiệp chế biến gỗ; 820 doanh nghiệp sản xuất ván nhân tạo; 55 doanh nghiệp pallet; 25 doanh nghiệp sản xuất viên nén gỗ, 188 doanh nghiệp sản xuất dăm gỗ. Trong đó, số lượng doanh nghiệp trong nước 4.813 doanh nghiệp; 767 doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FDI). Doanh nghiệp trực tiếp xuất khẩu khoảng 2.600 doanh nghiệp.

Sớm có giải pháp để xây dựng vùng nguyên liệu gỗ phục vụ sản xuất, chế biến
Rừng sản xuất của một hộ dân tại huyện Yên Thế, Bắc Giang. 

Về cơ cấu vốn của doanh nghiệp chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm trên 88% tổng số doanh nghiệp chế biến; doanh nghiệp có quy mô vừa và lớn (hơn 15 tỷ đồng) chiếm trên 11% tổng số doanh nghiệp chế biến.

Thực hiện quản lý theo chuỗi hành trình sản phẩm (Hệ thống kiểm soát truy xuất nguồn gốc gỗ hợp pháp - CoC), đến nay đã có gần 1.000 doanh nghiệp chế biến gỗ, lâm sản được chứng nhận quản lý theo chuỗi hành trình sản phẩm, theo hệ thống chứng nhận của các tổ chức FSC và PEFC quốc tế.

Các doanh nghiệp chế biến gỗ tập trung chủ yếu tại khu vực Đông Nam Bộ (TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Bình Phước), chiếm trên 42% tổng số doanh nghiệp cả nước; khu vực Nam Trung Bộ chủ yếu tập trung tại tỉnh Bình Định, Phú Yên và một số tỉnh khu vực phía Bắc nơi có các làng nghề truyền thống như Hà Nội, Bắc Ninh, Nam Định..

Cùng với sự tăng trưởng và phát triển của ngành chế biến gỗ xuất khẩu thì nhu cầu nguyên liệu gỗ cũng tăng cao, trong giai đoạn 2017-2021, lượng gỗ khai thác trong nước chiếm 77,4% tổng nguồn cung (gỗ khai thác từ rừng trồng tập trung chiếm 52,7%, gỗ khai thác từ cây trồng phân tán chiếm 14%; gỗ khai thác từ rừng cao su thanh lý chiếm 10,7 %); gỗ nhập khẩu hiện chiếm 22,6 % tổng nguồn cung.

Sớm có giải pháp để xây dựng vùng nguyên liệu gỗ phục vụ sản xuất, chế biến
Một doanh nghiệp  sản xuất, chế biến đồ gỗ xuất khẩu tại huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng. 

Gỗ nguyên liệu trong nước đáp ứng gần 80% nhu cầu nguyên liệu, tuy nhiên, gần 70% là gỗ có kích thước nhỏ, sản xuất các sản phẩm như dăm gỗ, các loại ván nhân tạo. Nguồn nguyên liệu gỗ rừng trồng tập trung phục vụ chế biến gỗ được khai thác từ 3,69 triệu héc ta rừng trồng sản xuất, trong đó: Vùng Đông Bắc Bộ 1,39 triệu ha, chiếm 37,7%; Vùng Bắc Trung Bộ 0,77 triệu ha, chiếm 20,9%; Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ 0,54 triệu héc ta, chiếm 14,7%; Vùng Tây Nguyên 0,29 triệu héc-ta, chiếm 7,8%; Các vùng Đông Nam Bộ, Tây Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long 0,379 triệu héc ta chiếm 10,3% diện tích rừng trồng trong cả nước

Các loại gỗ rừng trồng (rừng sản xuất): Keo, Bạch đàn: 2,59 triệu héc-ta, chiếm 70% tổng diện tích rừng trồng sản xuất; Mỡ, Bồ đề, Tràm: 740 nghìn héc ta, chiếm 20% tổng diện tích rừng trồng sản xuất... Các loài cây khác có chu kỳ khai thác trên 10 năm (Thông, Lát, Xoan, và các loài cây bản địa khác): 370 nghìn héc ta, chiếm khoảng 10% tổng diện tích rừng trồng sản xuất. Về diện tích rừng trồng gỗ lớn cả nước hiện có 489.016 héc ta. Diện tích rừng trồng có chứng nhận quản lý rừng bền vững ( FSC...) khoảng 290,5 nghìn héc ta.

Phát biểu tại hội nghị, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Lê Quốc Doanh cho biết, kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản của Việt Nam năm 2021 đạt khoảng 16 tỷ USD, xuất siêu khoảng 13 tỷ USD. Hiện ngành sản xuất, chế biến gỗ và lâm sản của Việt Nam là một quốc gia có thứ hạng trên thế giới. Nhận định ngành sản xuất chế biến gỗ và lâm sản của Việt Nam còn nhiều dư địa phát triển trong thời gian tới. Vì thế, nhu cầu sử dụng nguồn nguyên liệu từ gỗ rừng trồng ngày một tăng về số lượng cũng như chất lượng đòi hỏi chúng ta phải có sự chuẩn bị kỹ càng cũng như đề ra các giải pháp phù hợp để xây dựng vùng nguyên liệu ngay từ bây giờ nhằm đáp ứng cho sản xuất, chế biến.

Tin, ảnh: NGUYỄN KIỂM

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l