Chuyển đến nội dung chính

Ngành gỗ nỗ lực giải "bài toán khó"

 

(Chinhphu.vn) - Giá gỗ nguyên liệu nhập khẩu tăng cao, trong khi nhiều doanh nghiệp xuất khẩu gỗ và lâm sản đã ký đơn hàng tới cuối năm. Câu chuyện giá nguyên liệu đầu vào một lần nữa đặt ra yêu cầu ngành gỗ cần phải chủ động nguyên liệu từ ngay nội địa.

22/04/2022  22:34
Ngành Gỗ bàn hướng chủ động hàng trong nước   - Ảnh 1.

Cần phát triển trồng rừng gỗ lớn để đáp ứng cho sản xuất gỗ và lâm sản - Ảnh: VGP/Đỗ Hương

Những diễn biến phức tạp của dịch COVID-19 và xung đột giữa Nga và Ukraine thời gian qua làm cho cước vận chuyển tăng phi mã, giá gỗ nguyên liệu nhập khẩu tăng cao. Trong khi trồng rừng nguyên liệu trong nước vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất.

Ngày 22/4 Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT) phối hợp với Hiệp hội Gỗ và Lâm sản (VIFOREST) tổ chức Hội nghị Phát triển vùng nguyên liệu Gỗ phục vụ ngành công nghiệp, chế biến xuất khẩu.

Theo Chủ tịch VIFOREST Đỗ Xuân Lập, thống kê gỗ nhập khẩu từ Tổng cục Hải quan cho thấy chỉ trong vòng 3 tháng đầu 2022, giá gỗ thông tròn nhập khẩu đã tăng 52%, gỗ thông xẻ nhập khẩu tăng 38%, gỗ sồi xẻ tăng 36%.

Bên cạnh đó, thời gian nhập khẩu kéo dài dẫn đến các doanh nghiệp phải chậm các hoạt động sản xuất. Các yếu tố này đang trực tiếp làm giảm lợi thế cạnh tranh của ngành.

Trồng rừng chưa đáp ứng được nhu cầu nguyên liệu gỗ

Ông Đỗ Xuân Lập cho rằng, lúc này cần chủ động được nguồn gỗ nguyên liệu đầu vào, tiến tới thay thế nguồn gỗ nhập khẩu hiện đang ở mức 5-6 triệu m3 mỗi năm như hiện nay.

Ông Lập thông tin: "Nhiều doanh nghiệp, bao gồm cả một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng đang nỗ lực liên kết phát triển gỗ có chứng chỉ FSC (chứng chỉ Quản lý rừng). Nguồn cung gỗ rừng trồng có chất lượng là nguồn gỗ nguyên liệu đầu vào cho sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng cao".

Trên thực tế, Việt Nam khuyến khích việc phát triển gỗ rừng trồng là gỗ lớn, có chứng chỉ bền vững. Điều này thể hiện rõ trong Chiến lược Phát triển ngành lâm nghiệp giai đoạn 2020 -2030 và tầm nhìn tới 2050, cũng như trong Đề án phát triển bền vững ngành chế biến gỗ được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào tháng 3/2022. Bên cạnh các cơ chế chính sách kể trên, các doanh nghiệp trong ngành cũng vô cùng nỗ lực trong việc tìm kiếm cơ hội tham gia trực tiếp vào chuỗi cung trồng rừng gỗ lớn, có chứng chỉ.

Hiện, nhiều mô hình doanh nghiệp thuộc Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam VINAFOR đã có những diện tích rừng đạt FSC, các doanh nghiệp như Woodsland, NAFOCO, Scancia Pacific kết hợp với các hộ trồng rừng ở Tuyên Quang, Yên Bái, Thanh Hóa, Đồng Nai... đã đạt chứng chỉ FSC.

Tuy nhiên, ông Lập cũng thẳng thắn cho rằng kết quả thực tế đến nay của việc trồng rừng gỗ lớn, đặc biệt là trồng rừng có chứng chỉ bền vững FSC còn nhiều hạn chế.

VIFOREST và Forest Trends phối hợp nghiên cứu đã cho thấy, tính đến hết tháng 3/2022 tổng diện tích rừng trồng là rừng sản xuất có chứng chỉ FSC của Việt Nam đạt gần 180 nghìn ha, tương đương khoảng 5% trong tổng số diện tích rừng sản xuất của Việt Nam. Nếu tính cả diện tích rừng đạt chứng chỉ VFCS/PEFC (khoảng 50 nghìn ha) thì tổng diện tích rừng có chứng chỉ bền vững mới chỉ đạt dưới 7% tổng diện tích rừng trồng là rừng sản xuất.

Bên cạnh đó, tỷ trọng gỗ rừng trồng đi vào chế biến đồ gỗ còn thấp, chỉ chiếm 30-40% trong tổng lượng gỗ khai thác. Phần còn lại 60-70% đi vào dăm và viên nén. Năng suất rừng trồng tới nay cũng còn rất hạn chế. Nhiều diện tích mới chỉ đạt 10-15 m3/ha/năm, thấp hơn nhiều so với tiềm năng.

Ngành Gỗ bàn hướng chủ động hàng trong nước   - Ảnh 2.

Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Lê Quốc Doanh cho rằng có thể phát triển trồng rừng gỗ lớn từ những loại cây hiện tại - Ảnh: VINFOREST

Cần nhiều chính sách thúc đẩy trồng rừng gỗ lớn

Ông Nguyễn Xuân Diện, Vụ trưởng Vụ Phát triển sản xuất Lâm nghiệp (Tổng cục Lâm nghiệp - Bộ NN&PTNT) thông tin: Năm 2021, cả nước có gần 14,68 triệu ha rừng, trong đó: Rừng đặc dụng: 2,17 triệu ha; rừng phòng hộ: 4,68 triệu ha; rừng sản xuất: 7,82 triệu ha, gồm: Rừng tự nhiên: 4,13 triệu ha; rừng trồng: 3,69 triệu ha. Nguồn nguyên liệu gỗ rừng trồng tập trung phục vụ chế biến gỗ được khai thác từ 3,69 triệu ha rừng trồng sản xuất.

Về phát triển rừng trồng gỗ lớn, cả nước có 489.016ha rừng trồng gỗ lớn, trong đó: các tỉnh miền núi phía Bắc có 325.927 ha; Đồng bằng Bắc bộ 1.017 ha; các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ: 121.698ha; Duyên hải Nam Trung Bộ: 14.040 ha; Tây Nguyên: 4.545 ha; Đông Nam Bộ: 21.525 ha và vùng Tây Nam Bộ: 262 ha.

Tuy số liệu cho thấy việc phát triển rừng sản xuất có nhiều tích cực nhưng về phía các doanh nghiệp, nhiều ý kiến vẫn cho rằng cần có những chính sách sát thực hơn để phát triển rừng sản xuất, đặc biệt là rừng cây gỗ lớn.

Ông Nguyễn Tiến Lâm, Chủ tịch Hiệp hội Chế biến gỗ và lâm sản ngoài gỗ Nghệ An phân tích: "Mỗi năm Việt Nam trồng mới 1,5 triệu ha rừng nhưng chỉ 10% trong số đó là gỗ lớn phục vụ chế biến, còn lại là phục vụ làm dăm gỗ, viên nén... giá trị thấp và rất thấp. Cần phải có những định nghĩa cụ thể hơn về rừng gỗ lớn và xây dựng tập đoàn cung ứng gỗ lớn đúng yêu cầu của doanh nghiệp. Sản xuất gỗ phải song hành với nhịp độ của các doanh nghiệp chế biến gỗ thì chính sách phát triển trồng rừng gỗ lớn mới thực sự hiệu quả".

Bà Đỗ Thị Bạch Tuyết, Phó Chủ tịch HĐQT Công ty CP Woodsland chia sẻ góc nhìn khác: "Việc duy trì cũng như phát triển vùng nguyên liệu gỗ lớn với chu kỳ rừng trồng 7 năm trở xuống của Woodsland còn gặp rất nhiều khó khăn. Nguyên nhân chính là vốn đầu tư giữ lại rừng hiện đang rất khó khăn đối với cả các công ty lâm nghiệp và hộ gia đình; chất lượng giống hiện nay đang bị thoái hóa, sâu bệnh trên diện rộng, tới năm thứ 3, 4 thì hiện tượng chết đứng đối với loài cây keo xảy ra, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sản lượng thu hoạch của các chủ rừng...". Bà Tuyết cũng cho rằng cần có chính sách chặt chẽ hơn nữa để người trồng rừng giữ được cây lâu năm và thực sự có rừng gỗ lớn.

Chia sẻ quan điểm này, ông Nguyễn Tuấn Thanh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định cũng cho biết, việc trồng rừng cây gỗ lớn rất khó khăn, phát triển rừng gỗ lớn cần thời gian dài từ 10 năm đến 15 năm. Do đó, ông Nguyễn Tuấn Thanh kiến nghị cần có cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp để có thể phát triển cả chuỗi từ trồng rừng, thu mua, chế biến và xuất khẩu.

Phát biểu tại hội nghị, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Lê Quốc Doanh nhìn nhận, muốn nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng thì cẩn phải tổ chức làm bài bản, chấn chỉnh toàn diện ngay từ khâu chọn giống, làm giống cho rừng trồng, kiểm soát chất lượng giống.

Thứ trưởng Doanh nhấn mạnh: "Trồng rừng gỗ lớn không nhất thiết phải thay đổi các loại cây khác so với cây đang trồng hiện nay. Bộ NN&PTNT đang thí điểm hỗ trợ phát triển rừng trồng, đảm bảo cho chủ rừng có thu nhập để tăng nhanh diện tích rừng có chứng chỉ của các tổ chức FSC và PEFC quốc tế. Bên cạnh đó, cần phải có sự liên kết của VIFOREST để xây dựng hệ thống dữ liệu cung - cầu đối với gỗ nguyên liệu và phải nghiên cứu đề xuất với Chính phủ về đề án và chính sách đột phá cho vấn đề này".

Đỗ Hương

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh