Chuyển đến nội dung chính

Minh bạch chuỗi cung sản phẩm gỗ: Lắng nghe từ người sản xuất

 

(Chinhphu.vn) - Hiểu rõ về khung pháp lý để bảo đảm minh bạch được chuỗi cung gỗ sẽ giúp người trồng rừng, người sản xuất và xuất khẩu gỗ chung tay xây dựng một nền kinh tế lâm nghiệp vững mạnh.

17/09/2022  12:57

Giữa tháng 8/2022, Tổng cục Lâm nghiệp dự thảo thông tư thay thế Thông tư số 27/2018/TT-BNNPTNT ngày 16/11/2018 của Bộ NN&PTNT về quản lý, truy xuất nguồn gốc lâm sản, đồng thời xin ý kiến rộng rãi của các bộ, ban, ngành, hiệp hội liên quan.

Liên quan đến thông tư đang được dự thảo này, việc tạo thông thoáng trong quản lý, truy xuất nguồn gốc lâm sản đang là vấn đề được quan tâm.

Minh bạch chuỗi cung sản phẩm gỗ: Lắng nghe từ người sản xuất - Ảnh 1.

Hội thảo góp ý thông tư về truy xuất, ngồn gốc lâm sản - Ảnh: VGP/Đỗ Hương

Ngày16/9, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam phối hợp với các hiệp hội thành viên và Tổ chức Forest Trend đã tổ chức Hội thảo "Góp ý cho Dự thảo Thông tư về quản lý, truy xuất nguồn gốc lâm sản".

Tại hội thảo, ông Đỗ Xuân Lập, Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và lâm sản Việt Nam cho hay, Việt Nam hiện đang có khoảng 4,4 triệu ha rừng trồng. Con số này bao gồm trên 1 triệu ha rừng trồng của 1,1 triệu hộ gia đình. Hằng năm, các diện tích này đang cung cấp khoảng trên dưới 30 triệu m3 gỗ quy tròn.

Nguồn gỗ này hiện có vai trò quan trọng nhất trong các nguồn cung gỗ đầu vào cho một đội ngũ đông đảo các doanh nghiệp trong ngành, bao gồm các doanh nghiệp xuất khẩu đồ gỗ, các doanh nghiệp sử dụng gỗ rừng trồng làm đồ gỗ nội địa, các doanh nghiệp xuất khẩu dăm, viên nén và ván ép, ván bóc.

Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy các doanh nghiệp có các sản phẩm xuất khẩu có sử dụng gỗ rừng trồng đang gặp phải khó khăn trong việc hoàn thuế giá trị gia tăng.

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là các ách tắc trong việc xác định nguồn gốc gỗ rừng trồng và tính pháp lý trong các giao dịch ở các khâu trung gian trong chuỗi cung. Ách tắc này xảy ra bởi một số diện tích rừng hiện còn thiếu các bằng chứng pháp lý về nguồn đất đai - ví dụ đất còn thiếu sổ đỏ, đất có tranh chấp, diện tích đất trên sổ khác với diện tích thực tế, đất mua đi bán lại giữa các bên theo hình thức không chính thống, chưa sang tên đổi chủ chính thức…

Ách tắc cũng xảy ra khi các bên tham gia khâu trung gian của chuỗi không thực hiện đúng với các quy định hiện hành về hồ sơ lâm sản và trách nhiệm về thuế trong các giao dịch của mình. Kết quả là một số doanh nghiệp xuất khẩu phải tìm cách hợp pháp hóa đầu vào nguyên liệu của mình. Một số doanh nghiệp tắc trong việc xin hoàn thuế.

Minh bạch chuỗi cung  sản phẩm gỗ: Lắng nghe từ người sản xuất - Ảnh 2.

Tính hợp pháp của gỗ rừng trồng phụ thuộc vào toàn bộ chuỗi cung gỗ - Ảnh: VGP/Đỗ Hương

Năm 2018, Bộ NN&PTNT ban hành Thông tư 27 quy định về quản lý truy xuất nguồn gốc lâm sản. Nhìn chung, Thông tư đi theo hướng đưa ra các quy định thông thoáng về chuỗi cung gỗ rừng trồng trong nước, bao gồm từ khâu khai thác tới khâu cuối cùng của chuỗi.

Tuy nhiên, tính hợp pháp của gỗ rừng trồng trong chuỗi cung không chỉ ràng buộc bởi Thông tư 27 của Bộ NN&PTNT mà còn phụ thuộc vào các khâu trung gian tham gia chuỗi cung thực hiện các nghĩa vụ pháp lý của mình ra sao, đặc biệt là các trách nhiệm về thuế được quy định trong các thông tư của Bộ Tài chính, đặc biệt là Thông tư 40 về hướng dẫn thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân.

Tại hội thảo, đại diện của tất cả các bên tham gia chuỗi cung, bao gồm đại diện các hộ gia đình, đại diện các xưởng xẻ, các cơ sở ván bóc, dăm, viên nén và các doanh nghiệp xuất khẩu sử dụng gỗ rừng trồng đã cùng chia sẻ thông tin, góp ý thắng thắn, tập trung vào các vấn đề vướng mắc nhất trong các khâu của chuỗi cung gỗ rừng trồng hiện nay.

Đóng góp ý kiến vào dự thảo Thông tư sửa đổi, TS. Tô Xuân Phúc, chuyên gia phân tích chính sách, Tổ chức Forest Trend cho rằng, về xác minh nguồn gốc gỗ, chính quyền địa phương cần xác nhận tính hợp pháp của chủ hộ dựa trên các diện tích đất trồng trong ngắn hạn.

Trong dài hạn, cơ quan quản lý cần thực hiện cấp sổ, điều chỉnh sai sót giữa sổ và thực địa, và hợp pháp hóa những diện tích canh tác lâu năm. Bởi đây không chỉ đơn thuần là việc của chủ rừng, mà còn là minh bạch hóa nguồn đầu vào cho một ngành xuất khẩu tỷ USD.

Tại hội thảo, một số đại diện các đơn vị thu mua gỗ cho biết hiện nay, nhiều bên tham gia chuỗi sản xuất gỗ là các hộ nhỏ lẻ, hoạt động phi chính thức có doanh thu thấp hơn 1 tỷ đồng/năm, nhưng hiện họ phải chịu mức thuế khoán 1%. Con số này nên về 0% để tạo động lực sản xuất cho người dân.

Ông Tô Xuân Phúc cũng nêu ý kiến việc đưa các mặt hàng gỗ được làm từ gỗ rừng trồng trong nước vào danh mục rủi ro về thuế dẫn đến kết quả rằng tần suất thanh kiểm tra của cơ quan thuế và cơ quan chức năng khác như cơ quan cấp chứng nhận xuất xứ (CO), kiểm lâm, công an và chính quyền địa phương đối với các bên tham gia chuỗi cung tăng.

Bên cạnh đó, các yêu cầu của cơ quan quản lý thuế và cơ quan cấp CO về hoàn thuế giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp sử dụng gỗ rừng trồng tạo sản phẩm xuất khẩu và doanh nghiệp cần chứng nhận xuất xứ hiện rất chặt chẽ. Một số doanh nghiệp đang bị tắc trong khâu hoàn thuế do chuỗi cung nguyên liệu còn có các hạn chế.

Ông Bùi Chính Nghĩa, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp cho biết, mục tiêu hàng đầu của thông tư mới là tạo sự thông thoáng cho việc quản lý, truy xuất nguồn gốc lâm sản. Bên cạnh đó, thông tư mới cần bảo đảm tính hài hòa với các quy định của quốc tế.

"Dự thảo thông tư mới gồm 7 chương 40 điều và 3 phụ lục, trọng tâm là quản lý sản phẩm gỗ khai thác theo chuỗi. Dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn từ Bộ NN&PTNT, ngành lâm nghiệp chủ trương quản lý chặt gỗ rừng tự nhiên, gỗ nhập khẩu, đồng thời khuyến khích xây dựng thương hiệu để truy xuất, quản lý gỗ bền vững", ông Nghĩa nói.

Việc hiểu rõ thực trạng về tính pháp lý của nguồn gỗ nguyên liệu rừng trồng trong nước này có vai trò rất quan trọng. Đây là nền tảng để xây dựng các kiến nghị chính sách sát với thực tiễn. Chính sách thông thoáng góp phần thúc đẩy sự tuân thủ pháp luật của các bên tham gia chuỗi cung, tạo chuỗi minh bạch và hợp pháp.

Đỗ Hương

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh