Chuyển đến nội dung chính

Kín đơn hàng đến cuối năm nhưng doanh nghiệp ngành gỗ lại than... "chưa vui mừng nổi"

 

Ngành chế biến gỗ đã trở lại sản xuất thuận lợi sau dịch Covid-19, nhiều doanh nghiệp ngành gỗ hiện đã có đơn hàng cho cả năm 2022. Tuy nhiên, họ đang bị áp lực rất lớn vì thiếu nguyên liệu, không đảm bảo tiến độ sản xuất cho các đơn hàng đã ký.

Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ trong tháng 4/2022 ước tính đạt 1,5 tỷ USD, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2022, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ ước đạt 5,48 tỷ USD, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm 2021.

Kín đơn hàng đến cuối năm nhưng doanh nghiệp ngành gỗ lại than... "chưa vui mừng nổi" - Ảnh 1.

Các DN ngành gỗ đang đối diện áp lực thiếu gỗ nguyên liệu để sản xuất. Ảnh: Quốc Hải

Thiếu nguyên liệu, doanh nghiệp không dám "chốt đơn"

Công ty gỗ Thiên Minh (TP.HCM) - DN có thâm niên trong lĩnh vực xuất khẩu đồ gỗ nội thất sang các thị trường như Mỹ, châu Âu đang loay hoay với nỗi khổ có nhiều đơn hàng nhưng không dám nhận.

Ông Trần Lam Sơn, Phó Tổng giám đốc Công ty cho biết: "Chúng tôi đã kín đơn hàng từ đây đến cuối năm. Sau dịch, nhiều đối tác nước ngoài tìm đến DN đặt hàng nhưng chúng tôi không dám nhận vì sợ không đáp ứng được và... sợ lỗ".

Theo ông Sơn, giá cả các nguyên phụ liệu đầu vào đang tăng chóng mặt, và đã tăng từ 20-30% so với trước dịch.

"Nguyên liệu phụ tăng giá từng ngày và chưa có điểm dừng, DN trở tay không kịp, nhận đơn hàng là ôm lỗ. Chính vì vậy, công ty chỉ hoạt động cầm chừng và nghe ngóng giá từng ngày chứ không nhận những đơn hàng lớn như trước" - ông Sơn than thở.

Hiện, lượng hàng xuất khẩu của Công ty Thiên Minh cũng giảm so với cùng kỳ.

Theo ông Nguyễn Chánh Phương, Phó Chủ tịch hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ  TP.HCM  (HAWA) cho hay, nhờ vào các Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)… mà ngành chế biến gỗ Việt Nam đã thuận lợi đưa đơn hàng ra nhiều thị trường, tăng khả năng cạnh tranh với mặt hàng của các quốc gia khác.

Cụ thể, mặt hàng nội thất bằng gỗ xuất khẩu vào các thị trường CPTPP đều tăng mạnh, dẫn đầu là nội thất phòng khách, phòng ăn, tiếp theo là nội thất phòng ngủ.

"Dự báo xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ sang khối thị trường này còn tiếp tục tăng mạnh trong thời gian tới, vì trong hiện tại, nhiều doanh nghiệp đang gia tăng công suất để kịp tiến độ các đơn hàng đã ký đến hết quý 2/2022", ông Phương cho hay.

Kín đơn hàng đến cuối năm nhưng doanh nghiệp ngành gỗ lại than... "chưa vui mừng nổi" - Ảnh 2.

Dù đơn hàng dồn dập nhưng nhiều DN không dám ký vì sợ rủi ro do chi phí nguyên vật liệu, logistics… tăng cao

Mặc dù ngành gỗ đang trên đà thuận lợi về đơn hàng, nhưng hầu hết các doanh nghiệp đang phải đau đầu vì nhiều chi phí phát sinh kể từ thời điểm cả nước gỡ bỏ phong tỏa cho đến nay. Bên cạnh đó, giá nguyên liệu đầu vào cao, dù 70% nguyên liệu của ngành gỗ nội thất Việt Nam là nội địa.

Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu đồ gỗ lớn nhất của Việt Nam

Theo ước tính, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ tới thị trường Mỹ trong tháng 4/2022 đạt 895 triệu USD, tăng 8,7% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung 4 tháng đầu năm 2022, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ tới thị trường Mỹ ước đạt 3,3 tỷ USD, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm 2021, chiếm 60,4% tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm.

"Phần nguồn cung còn lại vẫn phải nhập từ châu Âu, Mỹ và Nam Mỹ nên áp lực nguyên liệu đầu vào lớn," ông Nguyễn Chánh Phương nói.

Không chỉ vấn đề thiếu nguyên liệu, các DN ngành gỗ hiện còn phải đối mặt với chi phí logistics tăng cao.

Ông Nguyễn Văn Bình, Giám đốc Công ty TNHH Bình Minh (huyện Củ Chi) nhìn nhận, khó khăn sẽ vẫn còn tiếp diễn bởi giá cước vận tải biển tăng và thiếu hụt container rỗng, chi phí cước tàu biển đã tăng gấp 5-7 lần so với trước dịch.

"Dù đơn hàng dồn dập nhưng DN không dám ký vì sợ rủi ro do chi phí nguyên vật liệu, logistics… tăng cao" - ông Bình nói.

Gỡ khó cách nào?

Theo Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST), hiện nay, xuất khẩu gỗ đang gặp "nút thắt" lớn là giá cước vận chuyển, chi phí logistics tăng cao.

Đơn cử, với thị trường Mỹ, biến động về giá cước vận tải trong 2 năm trở lại đây đã không ngừng tăng, từ mức giá mỗi container 40 feet đi Mỹ khoảng 4.000-5.000USD, hiện đã tăng 19.000 - 20.000 USD, tác động rất lớn đến mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ xuất khẩu tới thị trường này.

Về nguyên liệu gỗ nhập khẩu, từ đầu năm nay, giá đã tăng 30-52%, chi phí logistics tăng, thời gian vận chuyển kéo dài, nhiều bất ổn nên doanh nghiệp đang gặp khó khăn về nguyên liệu. Gỗ nguyên liệu từ các nguồn cung rủi ro thấp như Mỹ và các nước Châu Âu khan hiếm, đẩy giá tăng cao.

Đặc biệt, việc Nga hạn chế, cấm xuất khẩu khiến cho thị trường thiếu hụt về nguồn cung gỗ nguyên liệu, trong khi nhu cầu tiêu thụ về đồ gỗ tiếp tục gia tăng, đã đẩy giá gỗ nguyên liệu lên cao. Điều này tạo ra sự cạnh tranh mạnh về nguồn nguyên liệu trên thế giới. Do vậy, nhập khẩu gỗ của Việt Nam từ các thị trường khác cũng sẽ đối mặt với khó khăn.

Vì vậy, theo VIFOREST, giải pháp cấp thiết là phải tăng trồng rừng gỗ lớn để thay thế khoảng 5-6 triệu mét khối (m3) gỗ nhập khẩu mỗi năm.

Trên thực tế, nhiều năm qua, Chính phủ đã đưa ra các cơ chế, chính sách nhằm khuyến khích trồng rừng gỗ lớn, có chứng chỉ, phục vụ sản xuất đồ gỗ. Tạo nguồn gỗ nguyên liệu rừng trồng có chất lượng trong nước sẽ trực tiếp phần tạo ra ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao được tạo ra từ nguồn gỗ này mà còn giúp làm giảm sự phụ thuộc của ngành vào nguồn gỗ nhập khẩu đặc biệt là nguồn gỗ rủi ro.

Tuy nhiên cho đến nay, kết quả đạt được trong việc tạo nguồn gỗ rừng trồng chất lượng cao vẫn còn thấp hơn nhiều so với kỳ vọng.

Hiện Việt Nam (tính tới hết tháng 3/2022) có 226,429ha rừng đạt chứng chỉ FSC và 54,529 ha rừng đạt chứng chỉ VFCS/PEFC. Phần diện tích đạt chứng chỉ FSC này bao gồm một số diện tích là rừng tự nhiên, phần còn lại là rừng trồng.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l