Chuyển đến nội dung chính

Hội nghị tìm giải pháp phát triển vùng nguyên liệu gỗ rừng trồng bền vững

 Chiều 22/04, tại TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Dịnh đã diễn ra Hội nghị “Phát triển vùng nguyên liệu phục vụ ngành công nghiệp chế biến gỗ, xuất khẩu”. Hội nghị xác định: Phấn đấu đến năm 2025, sản lượng gỗ nguyên liệu toàn quốc khai thác từ rừng trồng đạt 35 triệu m3. …

Hội nghị do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) tổ chức. Tham dự Hội nghị có các ông: Lê Quốc Doanh, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT; Nguyễn Tuấn Thanh., Phó chủ tịch thường trực UBND tỉnh Bình Định; Đỗ Xuân Lập, Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản (G&LS) Việt Nam; cùng hơn 330 đại biểu là các nhà nghiên cứu, nhà khoa học, nhà quản lý, doanh nhân đến từ các viện nghiên cứu, trường đại học, cao đẳng, các hiệp hội G&LS (VIFOREST, HAWA, BIFA, DOWA); Sở NN&PTNT các tỉnh: Tuyên Quang, Quảng Nam, Bình Định, An Giang, Cà Mau…

Quang cảnh hội nghị.
Quang cảnh hội nghị. Ảnh V.H.

Theo Bộ NN&PTNT, cả nước hiện có 5.580 DN sản xuất, kinh doanh, chế biến gỗ và lâm sản (CBG&LS); trong đó có 4.760 DN CBG, 240 DN sản xuất ván nhân tạo, 188 DN sản xuất dăm gỗ. Ngành CBG&LS cả nước hiện có trên 500.000 lao động, trong đó lao động động được đào tạo, làm việc ổn định chiếm 55-60%. Những năm qua, ngành CBG&LS là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam. Theo thống kê, chỉ tính riêng năm 2021, mặc dù chịu tác động do đại dịch Covid-19, song giá trị xuất khẩu của ngành công nghiệp CBG vẫn đạt gần 16 tỷ USD, tăng 20% so với năm 2020 và tăng gần 21% so với năm 2015, tăng 47% so với năm 2010….

Tuy nhiên, hoạt động sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu của các DN ngành CBG&LS vẫn còn nhiều hạn chế, khó khăn, bất cập. Theo Bộ NN&PTNT, một trong những khó khăn của ngành CBG&LS là gỗ nguyên liệu và vùng nguyên liệu. Theo đó, cả nước hiện mới chỉ có khoảng 1.000/5.580 DN sản xuất, kinh doanh CBG&LS được chứng nhận FSC và PEEC quốc tế (chứng nhận quản lý theo chuôi hành trình sản phẩm); gỗ nguyên liệu trong nước đáp ứng gần 80% nhu cầu nguyên liệu, tuy nhiên trong đó có tới 70% là gỗ kích thước nhỏ. Đáng lưu ý, công tác phát triển vùng nguyên liệu gặp khá nhiều khó khăn, nhất là các vấn đề: Đất đai và hạ tầng; Chính sách,  tín dụng; Giống và kỹ thuật; Rủi ro trong trồng rừng sản xuất….

Trên cơ sở kết quả đạt được của ngành CBG&LS thời gian qua, cùng với những phân tích, đánh giá về tiềm năng, thế mạnh và cả những tồn tại, khó khăn, Bộ NN&PTNT đã đề ra một số nhiệm vụ, mục tiêu, giải pháp phát triển vùng nguyên liệu gỗ rừng trồng giai đoạn 2021-2025.

Theo đó, Bộ NN&PTNT xác định: Phấn đấu ít nhất 90% diện tích rừng được trồng từ giống cây lâm nghiệp đã được công nhận; năng suất rừng trồng thâm canh giống mới trung bình 20m3/ha/năm vào năm 2025 và và 22m3/ha/năm vào năm 2030; Phấn đấu đến năm 2025, sản lượng gỗ nguyên liệu toàn quốc khai thác từ rừng trồng đạt 35 triệu mvà 50 triệu mvào năm 2030; Phấn đấu diện tích rừng có chứng chỉ rừng bền vững đạt trên 0,5 triệu ha giai đoạn 2021-2025 và trên 01 triệu ha giai đoạn 2026-2030…

- Cùng với Bình Dương, Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh, Bình Định là 01 trong 04 trung tâm đồ gỗ của Việt Nam. Trong ảnh: Một góc phân xưởng chế biến gỗ của Công ty Gia Hân (huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định).
- Cùng với Bình Dương, Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh, Bình Định là 01 trong 04 trung tâm đồ gỗ của Việt Nam. Trong ảnh: Một góc phân xưởng chế biến gỗ của Công ty Gia Hân (huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định).. (Ảnh: V.H)

Đồng thời, nhằm  thực hiện có hiệu quả những mục tiêu trên, Bộ NN&PTNT cũng đã đề ra một số nhiệm vụ, giải pháp, như: Hoàn thiện, thực hiện hiệu quả cơ chế, chính sách thu hút đầu tư trồng rừng; Rà soát, quy hoạch vùng phát triển rừng trồng; Tăng cường quản lý chất lượng giống cây trồng lâm nghiệp; Triển khai trồng rừng theo Đề án “Trồng một  tỷ cây xanh giai đoạn 2021-2025” của Thủ tướng Chính phủ…

Hội nghị cũng dành thời gian nghe các chuyên gia, nhà khoa học trình bày một số báo cáo tham luận, như: “Báo cáo kết quả nghiên cứu phát triển rừng trồng nguyên liệu phục vụ ngành công nghiệp CBG xuất khẩu”; “Thực trạng nghiên cứu chọn tạo và giải pháp phát triển nguồn giống cây lâm nghiệp”; “Mô hình liên kết giữa công ty CBG với công ty lâm nghiệp trong phát triển lâm nghiệp”; “Cập nhật nguồn cung gỗ nguyên liệu nhập khẩu”; “Báo cáo về “Đầu tư  theo chuỗi giải pháp để tạo nguồn gỗ nguyên liệu rừng trồng”…

Viết Hiền

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh