Chuyển đến nội dung chính

Để nguồn gỗ nguyên liệu phát triển bền vững

 

Việt Nam là một trong những quốc gia hàng đầu thế giới về sản xuất, chế biến đồ gỗ và lâm sản, song nguồn nguyên liệu, nhất là nguyên liệu nội địa phục vụ sản xuất, chế biến đang là vấn đề thách thức lớn đối với ngành lâm nghiệp, đòi hỏi phải sớm tìm ra lời giải nếu muốn tăng trưởng, phát triển trong thời gian tới.

Nhân tố của tăng trưởng

Theo ông Nguyễn Văn Diện, Vụ trưởng Vụ Phát triển sản xuất Lâm nghiệp, Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT): Cả nước hiện có 5.580 doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, chế biến gỗ và lâm sản, thu hút khoảng 500.000 lao động, trong đó có 2.600 doanh nghiệp xuất khẩu trực tiếp, tập trung nhiều nhất tại khu vực Đông Nam Bộ và khu vực Đồng bằng sông Hồng, Nam Trung Bộ, Đông Bắc Bộ.

Cùng với sự tăng trưởng và phát triển của ngành chế biến gỗ xuất khẩu, nhu cầu nguyên liệu gỗ cũng tăng cao, giai đoạn 2017-2021, lượng gỗ khai thác trong nước chiếm khoảng 77,4% tổng nguồn cung (gỗ khai thác từ rừng trồng tập trung-hay còn gọi là rừng sản xuất) chiếm 52,7%, gỗ khai thác từ cây trồng phân tán chiếm 14%; gỗ khai thác từ tái canh cao su chiếm 10,7%); gỗ nhập khẩu chiếm 22,6% tổng nguồn cung phục vụ sản xuất, chế biến.

Để nguồn gỗ nguyên liệu phát triển bền vững
Kiểm tra chất lượng gỗ tại khu rừng của một hộ dân ở Yên Thế, Bắc Giang. 

Các loại gỗ rừng trồng (rừng sản xuất): Keo, bạch đàn: 2,59 triệu ha, chiếm 70% tổng diện tích rừng trồng sản xuất; mỡ, bồ đề, tràm: 740.000ha, chiếm 20% tổng diện tích rừng trồng sản xuất. Các loài cây khác có chu kỳ khai thác trên 10 năm (thông, lát, xoan và các loài cây bản địa khác) khoảng 370.000ha, chiếm khoảng 10% tổng diện tích rừng trồng sản xuất. Về phát triển rừng trồng gỗ lớn cả nước, hiện mới chỉ khoảng 489.016ha, trong đó diện tích rừng trồng có chứng nhận quản lý rừng bền vững là 290.500ha.

Theo ông Đỗ Xuân Lập, Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST), việc thúc đẩy tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của ngành chế biến đồ gỗ và lâm sản Việt Nam những năm tới được dự báo rất khả quan, nhưng nguồn gỗ nguyên liệu từ nhập khẩu đang bấp bênh, không ổn định do giá cả, cước phí và phương tiện vận chuyển. Do đó, việc bảo đảm nguồn gỗ nguyên liệu phục vụ sản xuất, chế biến giữ vai trò quyết định trong tăng trưởng ngành chế biến gỗ xuất khẩu thời gian tới.

Nguồn gỗ rừng trồng chính là giải pháp góp phần giúp ngành sản xuất, chế biến gỗ và lâm sản Việt Nam tiếp tục phát triển. Bài toán cấp thiết đặt ra là làm thế nào để Việt Nam có được nguồn gỗ nguyên liệu trong nước là gỗ lớn, có chất lượng, đa dạng về chủng loại?

Đây là những câu hỏi hết sức cấp thiết mà ngành lâm nghiệp cần phải giải quyết trong thời gian tới nếu chúng ta muốn giữ vững lợi thế cạnh tranh của ngành. Bởi dẫu gỗ nguyên liệu trong nước đáp ứng gần 80% nhu cầu sản xuất, chế biến, song gần 70% là gỗ có kích thước nhỏ, chỉ sản xuất các sản phẩm như dăm gỗ, các loại ván nhân tạo.

Gỗ lớn - bài toán của sản xuất, chế biến

Là một trong những doanh nghiệp sản xuất, chế biến gỗ lớn, doanh thu từ xuất khẩu năm 2021 đạt trên 100 triệu USD, bà Đỗ Thị Bạch Tuyết, Phó chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Woodsland cho biết: "Nhu cầu sản xuất của công ty khoảng 3 triệu m3 gỗ keo nguyên liệu/năm.

Chúng tôi đã hợp tác với 5 sở NN&PTNT để xây dựng vùng nguyên liệu có chứng chỉ FSC với khoảng 1.000ha, ngoài ra, công ty cũng phối hợp với nông dân tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang trồng 1.500ha rừng có chứng chỉ FSC. Mục tiêu của công ty là liên kết với nông dân và các hợp tác xã trồng rừng gỗ lớn (từ 7 năm trở lên, gỗ có đường kính 15cm trở lên là gỗ lớn) để phục vụ sản xuất, chế biến.

Thế nhưng, vấn đề lại không hề đơn giản do người dân gặp khó khăn về tài chính khi thực hiện trồng rừng gỗ lớn vì thời gian trồng rừng dài. Cùng với đó, chính sách thu mua gỗ có chứng chỉ của một số doanh nghiệp còn bất cập so với giá gỗ chưa có chứng chỉ (chưa có nhiều sự khác biệt) nên chưa khuyến khích được người dân trồng rừng gỗ lớn, gỗ có chứng chỉ. Để có nguồn nguyên liệu gỗ lớn từ rừng trồng, rất cần Nhà nước có nguồn vốn ưu đãi cho người trồng rừng, công ty lâm nghiệp. Bên cạnh việc hỗ trợ nguồn vốn, việc tuyên truyền để người dân hiểu ý nghĩa và giá trị kinh tế từ việc trồng rừng gỗ lớn cũng cần phải đẩy mạnh".

Nguyên Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Hà Công Tuấn, người có nhiều năm gắn bó với ngành lâm nghiệp, cho biết: Diện tích rừng sản xuất của Việt Nam hiện khoảng 3,7 triệu ha. Khả năng tăng diện tích đất rừng trồng sản xuất ở nước ta không còn nhiều.

Tuy nhiên, chúng ta vẫn có rất nhiều dư địa để tăng sản lượng gỗ rừng trồng nếu kéo dài chu kỳ (10-15 năm). Nếu chúng ta làm tốt thì đến năm 2030 sẽ có khoảng 60-70 triệu m3 gỗ nguyên liệu từ rừng trồng tập trung. Ngoài ra, chúng ta còn nguồn gỗ từ cây cao su, từ cây trồng phân tán...

Vì vậy, Bộ NN&PTNT cần sớm có đề án bài bản về phát triển nguồn gỗ nguyên liệu để trình Thủ tướng Chính phủ. Cùng với đó, để có nguồn nguyên liệu gỗ lớn, rất cần sự liên kết giữa nông dân, doanh nghiệp, chính quyền địa phương, Bộ NN&PTNT. Nước ta hiện có 1,1 triệu hộ nông dân trồng rừng, nhưng không có hợp tác xã thì không thể liên kết được với nông dân, người trồng rừng để xây dựng vùng nguyên liệu, đáp ứng yêu cầu, sản xuất chế biến.

 Theo nhận xét, đánh giá của các chuyên gia ngành lâm nghiệp: Ngành sản xuất, chế biến gỗ và lâm sản của Việt Nam thuộc hàng đầu thế giới; kim ngạch xuất khẩu gỗ, lâm sản năm 2021 của Việt Nam đạt khoảng 16 tỷ USD, xuất siêu khoảng 13 tỷ USD.

Dự báo ngành sản xuất, chế biến gỗ và lâm sản của Việt Nam còn nhiều dư địa phát triển trong thời gian tới. Vì thế, nhu cầu sử dụng nguồn nguyên liệu từ gỗ rừng trồng ngày một tăng, đòi hỏi chúng ta phải có sự chuẩn bị kỹ cũng như đề ra các giải pháp phù hợp để xây dựng vùng nguyên liệu ngay từ bây giờ phục vụ sản xuất, chế biến, đáp ứng thị trường trong nước cũng như xuất khẩu.

Diện tích gỗ rừng trồng sản xuất cả nước hiện có khoảng 3,7 triệu ha, trong đó: Vùng Đông Bắc Bộ: 1,39 triệu ha (37,7%), vùng Bắc Trung Bộ: 0,77 triệu ha (20,9%), vùng Duyên hải Nam Trung Bộ: 0,54 triệu ha (14,7%), vùng Tây Nguyên: 0,29 triệu ha (7,8%); các vùng: Đông Nam Bộ, Tây Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long: 0,379 triệu ha (10,3%)... (Nguồn: Tổng cục Lâm nghiệp)

NGUYỄN KIỂM

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l