Chuyển đến nội dung chính

Bàn giải pháp phát triển vùng nguyên liệu gỗ phục vụ xuất khẩu

 Giá gỗ nguyên liệu nhập khẩu tăng từ 36% đến 52% làm giảm sức cạnh tranh của ngành gỗ. Làm thế nào để Việt Nam có thể phát triển được nguồn gỗ nguyên liệu trong nước là gỗ lớn, có chất lượng, đa dạng về chủng loại loài và bền vững? Đây là những câu hỏi đang được đặt ra đối với ngành hàng này nếu muốn giữ vững lợi thế cạnh tranh.

Chiều ngày 22/4, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) phối hợp với Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam tổ chức Hội nghị Phát triển vùng nguyên liệu phục vụ ngành công nghiệp chế biến gỗ, xuất khẩu.

Giá gỗ nhập khẩu tăng từ 36% đến 52%

Ngành chế biến gỗ xuất khẩu của Việt Nam đang trải qua những biến động rất lớn trong thời gian vừa qua. Đại dịch Covid-19 và gần đây là xung đột giữa Nga và Ukraina làm cho cước vận chuyển tăng phi mã, giá gỗ nguyên liệu nhập khẩu tăng cao.

Toàn cảnh Hội nghị
Toàn cảnh Hội nghị

Con số thống kê gỗ nhập khẩu từ Tổng cục Hải quan cho thấy chỉ trong vòng 3 tháng đầu 2022, giá gỗ thông tròn nhập khẩu đã tăng 52%, gỗ thông xẻ nhập khẩu tăng 38%, gỗ sồi xẻ tăng 36%. Bên cạnh đó, thời gian nhập khẩu kéo dài dẫn đến các doanh nghiệp phải chậm các hoạt động sản xuất. Các yếu tố này đang trực tiếp làm giảm lợi thế cạnh tranh của ngành.

Theo ông Lê Quốc Doanh – Thứ trưởng Bộ NN&PTNT, mặc dù công tác trồng rừng nguyên liệu đã đạt được những thành tích đáng tự hào nhưng để cung cấp đủ gỗ nguyên liệu phục vụ chế biến, xuất khẩu đạt 17 tỷ USD vào năm 2022 và 20 tỷ USD vào năm 2025 theo Chiến lược Phát triển Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thì công tác trồng rừng nguyên liệu còn nhiều hạn chế.

Theo đó, chưa đáp ứng đủ lượng gỗ nguyên liệu cho chế biến, lượng gỗ nhỏ, non chiếm tỷ lệ lớn, không thể sản xuất các sản phẩm gỗ có giá trị gia tăng cao. Lượng gỗ có chứng chỉ quản lý rừng bền vững đáp ứng nhu cầu sản xuất sản phẩm gỗ xuất sang các thị trường chính như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, EU còn thấp.

Do đó, việc bàn thảo, đánh giá các nội dung về diện tích đất phục vụ phát triển rừng trồng nguyên liệu, chính sách hỗ trợ của Nhà nước cho phát triển rừng trồng nguyên liệu, những khó khăn, vướng mắc trong phát triển rừng trồng nguyên liệu, đặc biệt là bàn giải pháp tổng thể, toàn diện để phát triển rừng trồng nguyên liệu đáp ứng nhu cầu chế biến, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ cho giai đoạn 2021 – 2030 là hết sức cần thiết.

Đồng quan điểm về vấn đề này, ông Đỗ Xuân Lập – Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam - nhận định, Chính phủ Việt Nam ưu tiên, khuyến khích việc phát triển gỗ rừng trồng là gỗ lớn, có chứng chỉ bền vững. Điều này đã thể hiện rõ trong Chiến lược Phát triển ngành Lâm nghiệp 2006 - 2020 và gần là Chiến lược 2020 - 2030 và Tầm nhìn tới 2050, cũng như trong Đề án Phát triển bền vững ngành Chế biến gỗ vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào tháng 3 vừa qua.

Bên cạnh các cơ chế chính sách kể trên, các doanh nghiệp trong ngành cũng vô cùng nỗ lực trong việc tìm kiếm cơ hội tham gia trực tiếp vào chuỗi cung trồng rừng gỗ lớn, có chứng chỉ. “Nguồn cung gỗ rừng trồng có chất lượng là nguồn gỗ nguyên liệu đầu vào cho sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Tuy nhiên, nếu chúng ta nhìn vào kết quả thực tế đến nay của việc trồng rừng gỗ lớn, đặc biệt là trồng rừng có chứng chỉ bền vững FSC thì thấy còn nhiều hạn chế”, ông Đỗ Xuân Lập nhận định.

Dẫn con số thống kê của Nhóm nghiên cứu của các Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam và Forest Trends, ông Đỗ Xuân Lập cho hay, tính đến hết tháng 3/2022 tổng diện tích rừng trồng là rừng sản xuất có chứng chỉ FSC của Việt Nam đạt gần 180.000 ha, tương đương khoảng 5% trong tổng số diện tích rừng sản xuất của Việt Nam.

Nếu tính cả diện tích rừng đạt chứng chỉ VFCS/PEFC (khoảng 50.000 ha cho tới nay) thì tổng diện tích rừng có chứng chỉ bền vững mới chỉ đạt dưới 7% tổng diện tích rừng trồng là rừng sản xuất. Bên cạnh đó, tỷ trọng gỗ rừng trồng đi vào chế biến đồ gỗ của thấp, chỉ chiếm 30 - 40% trong tổng lượng gỗ khai thác. Phần còn lại 60 - 70% đi vào dăm và viên nén. Năng suất rừng trồng tới nay cũng còn rất hạn chế. Nhiều diện tích mới chỉ đạt 10 - 15 m3/ha/năm, thấp hơn nhiều so với tiềm năng.

Cần đồng bộ các giải pháp

Tại Hội nghị, nhiều vấn đề được các cơ quan quản lý, chuyên gia, doanh nghiệp đưa ra bàn thảo như: Việc giải quyết bài toán tạo nguồn nguyên liệu gỗ rừng trồng bền vững để thay thế nguồn gỗ nguyên liệu nhập khẩu như thế nào? Rào cản đối với việc phát triển rừng trồng gỗ lớn là gì? Có phải các rào cản về tiếp cận, đất đai, về thị trường đầu ra sản phẩm, về kỹ thuật như giống, kỹ thuật canh tác hay về môi trường cơ chế chính sách chưa phù hợp? Chỉ khi nào chúng ta các định được chính xác các rào cản này thì chúng ta mới có cơ hội thực sự trong việc phát triển trồng rừng gỗ lớn có chứng chỉ bền vững.

Giá gỗ nguyên liệu nhập khẩu tăng từ 36% đến 52% làm giảm sức cạnh tranh của ngành gỗ.
Giá gỗ nguyên liệu nhập khẩu tăng từ 36% đến 52% làm giảm sức cạnh tranh của ngành gỗ.

Nhu cầu của ngành về gỗ rừng trồng có chất lượng, bền vững là có thật. Việt Nam có tiềm năng trong việc phát triển nguồn nguyên liệu này. Để khai thác tốt các cơ hội để đưa nguyên liệu gỗ khai thác trong nước đáp ứng nhu cầu ngành càng cao của ngành chế biến gỗ phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, giảm bớt lượng gỗ nhập khẩu nhiều ý kiến cho rằng, cần hoàn thiện, thực hiện hiệu quả cơ chế, chính sách thu hút đầu tư trồng rừng.

Bên cạnh đó, cần rà soát, xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy hoạch Quốc gia ngành Lâm nghiệp Việt Nam, trong đó, tập trung rà soát, đánh giá diện tích đất lâm nghiệp và rừng trồng sản xuất hiện có; diện tích rừng phòng hộ ít xung yếu để phát triển rừng sản xuất; tạo vùng nguyên liệu tập trung, đủ lớn; gắn với quy hoạch các cơ sở chế biến, thị trường tiêu thụ.

Ngoài ra, cần tăng cường công tác quản lý chất lượng giống cây trồng lâm nghiệp theo các quy định hiện hành cũng như đẩy mạnh phát triển gỗ có chứng chỉ quản lý rừng bền vững. Đẩy mạnh phát triển các mô hình hợp tác, liên kết giữa doanh nghiệp chế biến gỗ với các chủ rừng trong trồng rừng gỗ lớn, có chứng chỉ quản lý rừng bền vững.

Bàn giải pháp phát triển vùng nguyên liệu phục vụ xuất khẩu, ông Nguyễn Tuấn Thanh - Phó chủ tịch thường trực UBND tỉnh Bình Định – cho rằng, việc trồng rừng cây gỗ lớn rất khó khăn, phát triển rừng gỗ lớn cần thời gian dài từ 10 năm đến 15 năm. Do đó, nhà nước cần có cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp để có thể phát triển cả chuỗi từ trồng rừng, thu mua, chế biến và xuất khẩu.

Đảm bảo cung cấp đủ nguyên liệu gỗ phục vụ chế biến, sản xuất sản phẩm gỗ phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, Việt Nam cần phấn đấu sản lượng gỗ tròn khai thác từ rừng trồng sản xuất đạt 35 triệu m3 vào năm 2025, 50 triệu m3 sản vào năm 2030. Phấn đấu diện tích rừng có chứng chỉ quản lý rừng bền vững đạt trên 0,5 triệu ha giai đoạn 2021 - 2025, trên 01 triệu ha giai đoạn 2026 – 2030.
Nguyễn Hạnh

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh