Chuyển đến nội dung chính

Bàn giải pháp "cứu đói" cho ngành chế biến gỗ

 

Trong 3 tháng đầu 2022, giá gỗ nguyên liệu nhập khẩu tăng 30-52%, cùng với thời gian vận chuyển kéo dài, dẫn đến các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ lâm vào tình trạng “đói” nguyên liệu, phải chậm hoạt động sản xuất. Bài toán cấp thiết của ngành gỗ là phải tăng trồng rừng gỗ lớn để thay thế nguồn gỗ nhập khẩu đang ở con số 5-6 triệu m3 mỗi năm hiện nay…

Đến nay, năng suất trồng rừng của Việt Nam bình quân đạt khoảng 15m3/ha/năm, nhưng so với rừng trồng ở các nước châu Âu, Mỹ vẫn còn quá thấp.
Đến nay, năng suất trồng rừng của Việt Nam bình quân đạt khoảng 15m3/ha/năm, nhưng so với rừng trồng ở các nước châu Âu, Mỹ vẫn còn quá thấp.

Muốn giữ vững lợi thế cạnh tranh của ngành gỗ, phải chủ động được nguồn gỗ nguyên liệu trong nước là vấn đề cấp thiết được đặt ra tại Hội nghị trực tuyến “Phát triển vùng nguyên liệu phục vụ ngành công nghiệp chế biến gỗ, xuất khẩu” do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam tổ chức vào chiều 22/4/2022 tại thành phố Quy Nhơn (Bình Định).

CĂNG THẲNG NGUỒN CUNG GỖ NGUYÊN LIỆU

Chủ trì hội nghị, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Quốc Doanh, nhận định mặc dù công tác trồng rừng nguyên liệu đã đạt được những kết quả tích cực nhưng để cung cấp đủ gỗ nguyên liệu phục vụ chế biến, xuất khẩu đạt 17 tỷ USD vào năm 2022 và 20 tỷ USD vào năm 2025 thì công tác trồng rừng nguyên liệu còn nhiều hạn chế.

“Không chỉ khối lượng gỗ thu hoạch từ rừng trồng chưa đáp ứng đủ lượng gỗ nguyên liệu cho chế biến, lượng gỗ nhỏ, gỗ non chiếm tỷ lệ lớn, không thể sản xuất các sản phẩm gỗ có giá trị gia tăng cao. Lượng gỗ có chứng chỉ quản lý rừng bền vững đáp ứng nhu cầu sản xuất sản phẩm gỗ xuất sang các thị trường chính như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, EU còn thấp”, Thứ trưởng Lê Quốc Doanh chỉ rõ.

Thứ trưởng Lê Quốc Doanh phát biểu chỉ đạo hội nghị.
Thứ trưởng Lê Quốc Doanh phát biểu chỉ đạo hội nghị.

Ông Đỗ Xuân Lập, Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, cho biết ngành chế biến gỗ xuất khẩu của Việt Nam đang trải qua những biến động rất lớn trong thời gian vừa qua. Đại dịch Covid-19 và gần đây là xung đột giữa Nga và Ukraina làm cho cước vận chuyển tăng phi mã, giá gỗ nguyên liệu nhập khẩu tăng cao.

Con số thống kê gỗ nhập khẩu từ Tổng cục Hải quan cho thấy chỉ trong vòng 3 tháng đầu 2022, giá gỗ thông tròn nhập khẩu đã tăng 52%, gỗ thông xẻ nhập khẩu tăng 38%, gỗ sồi xẻ tăng 36%.

Bên cạnh đó, thời gian nhập khẩu kéo dài dẫn đến các doanh nghiệp thiếu nguyên liệu, phải chậm các hoạt động sản xuất. Các yếu tố này đang trực tiếp làm giảm lợi thế cạnh tranh của ngành.

Bàn giải pháp "cứu đói" cho ngành chế biến gỗ - Ảnh 1

“Bài toán cấp thiết đặt ra là làm thế nào để Việt Nam có thể phát triển được nguồn gỗ nguyên liệu trong nước là gỗ lớn, có chất lượng, đa dạng về chủng loại loài và bền vững? Đây là những câu hỏi hết sức cấp thiết mà ngành cần phải giải quyết trong thời gian tới nếu chúng ta muốn giữ vững lợi thế cạnh tranh của ngành”, ông Lập nói.

"Trong 3 tháng đầu năm 2022, Việt Nam nhập khẩu 1,2 triệu m3 gỗ nguyên liệu từ 84 thị trường. So với cùng kỳ năm 2021, lượng nhập giảm 27%.  Quý 1/2022, Việt Nam nhập khẩu trên 350 ngàn m3 gỗ tròn, với kim ngạch 99 triệu USD (chỉ bằng 65% về lượng và 71% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2021); nhập khẩu 551 ngàn m3 gỗ xẻ, với kim ngạch 241 triệu USD (chỉ bằng 60% về lượng và 80% về giá trị so với cùng kỳ năm 2021)"

Ông Nguyễn Vinh Quang, chuyên gia của Tổ chức Forest Trends

Ông Nguyễn Vinh Quang, chuyên gia của Tổ chức Forest Trends, cho biết gỗ nguyên liệu chiếm 40-60% trong cơ cấu giá thành sản phẩm đồ gỗ. Trong giai đoạn 2012-2021 mỗi năm Việt Nam nhập khẩu trung bình hơn 4,8 triệu m3 gỗ nguyên liệu (quy tròn) từ trên 100 quốc gia và vùng lãnh thổ. Năm 2021 Việt Nam nhập khẩu gần 6 triệu m3 gỗ quy tròn.

Bức tranh nhập khẩu gỗ nguyên liệu có nhiều biến động lớn trong quý đầu năm nay. Giá gỗ nhập khẩu từ các nguồn hợp pháp (châu Âu, Mỹ) tăng mạnh.

Trong đó, gỗ thông tăng giá mạnh từ 91 USD/m3 vào đầu năm 2021 lên 139 USD/m3 vào tháng 2/2022, tăng tới 52% và tới tháng 3/2022. Hiện giá gỗ bạch dương, dương xẻ tăng 21%, sồi xẻ tăng 36% so với tháng 1/2022.

Đối với gỗ nguyên liệu nhập khẩu từ những khu vực nhiểu rủi ro như châu Phi, Campuchia cũng có sự biến động. Cụ thể, giá gỗ lim nhập khẩu tăng từ 275 USD/m3 trong tháng 12/2021 lên 561 USD vào tháng 3/2022.

Bàn giải pháp "cứu đói" cho ngành chế biến gỗ - Ảnh 2

“Tổ chức FSC ngừng toàn bộ các hoạt động thương mại có liên quan tới gỗ Nga, điều này có nghĩa rằng gỗ từ Nga được coi là bất hợp pháp. Ngoài ra, Chính phủ Nga cũng đưa ra lệnh cấm xuất khẩu gỗ tròn để trả đũa với các lệnh trừng phạt của phương tây. Kết quả của các biện pháp trừng phạt và trả đũa là nguồn cung gỗ từ Nga giảm. Hụt một lượng cung lớn về gỗ nguyên liệu đang tạo ra sự cạnh tranh về nguyên liệu giữa các quốc gia nhập khẩu, đẩy giá gỗ nguyên liệu tăng”, ông Nguyễn Vinh Quang phân tích.

Bàn giải pháp "cứu đói" cho ngành chế biến gỗ - Ảnh 3
Bàn giải pháp "cứu đói" cho ngành chế biến gỗ - Ảnh 4

THÚC ĐẨY TRỒNG RỪNG GỖ LỚN

Đề cập về hiện trạng rừng, ông Nguyễn Văn Diện, Vụ trưởng Vụ Phát triển sản xuất Lâm nghiệp, thông tin tính đến tháng 3/2022, cả nước có gần 14,68 triệu ha rừng, bao gồm: rừng đặc dụng 2,17 triệu ha; rừng phòng hộ 4,68 triệu ha; rừng sản xuất 7,82 triệu ha.

Bàn giải pháp "cứu đói" cho ngành chế biến gỗ - Ảnh 5

Nguồn nguyên liệu gỗ rừng trồng tập trung phục vụ chế biến gỗ được khai thác từ 3,69 triệu ha rừng trồng sản xuất. Trong giai đoạn 2017-2021, lượng gỗ khai thác trong nước chiếm 77,4% tổng nguồn cung đầu vào cho ngành sản xuất đồ gỗ (gỗ khai thác từ rừng trồng tập trung chiếm 52,7%, gỗ khai thác từ cây trồng phân tán chiếm 14%; gỗ khai thác từ rừng cao su thanh lý chiếm 10,7 %).

Tuy nhiên, tỷ trọng gỗ rừng trồng đi vào chế biến đồ gỗ còn thấp, chỉ chiếm 30-40% trong tổng lượng gỗ khai thác. Phần còn lại 60-70% đi vào dăm và viên nén.

Bàn giải pháp "cứu đói" cho ngành chế biến gỗ - Ảnh 6
Bàn giải pháp "cứu đói" cho ngành chế biến gỗ - Ảnh 7

Đến nay, cả nước có 489.016 ha rừng trồng gỗ lớn, bước đầu đã đáp ứng chất lượng nguyên liệu để sản xuất đồ gỗ.

Theo Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, giai đoạn 2016-2021, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã công nhận 98 giống cây lâm nghiệp. Hàng năm, các địa phương đã sản xuất được trên 750-850 triệu cây giống, trong đó chủ yếu là: keo tai tượng, keo lai, keo lá tràm, bạch đàn, tràm, thông mã vĩ, hồi, lát hoa, quế, mỡ, lim xanh, bồ đề, sa mộc…

Năng suất rừng trồng từng bước được cải thiện, đến nay, năng suất bình quân đạt khoảng 15m3/ha/năm. Tuy nhiên, năng suất này vẫn còn quá thấp so với rừng trồng ở các nước châu Âu, Mỹ.

Bà Đỗ Thị Bạch Tuyết, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Woodsland Tuyên Quang, chia sẻ hiện việc phát triển vùng nguyên liệu gỗ lớn với chu kỳ rừng trồng 7 năm trở xuống gặp rất nhiều khó khăn, do các hộ gia đình và công ty lâm nghiệp thiếu vốn đầu tư.

Hội nghị đã thống nhất đưa ra mục tiêu phấn đấu sản lượng gỗ nguyên liệu khai thác từ rừng trồng trong nước đạt 35 triệu m3 vào năm 2025 và 50 triệu m3 vào năm 2030. Phấn đấu đưa diện tích rừng có chứng chỉ quản lý rừng bền vững đạt trên 0,5 triệu ha giai đoạn 2021 - 2025, trên 1 triệu ha giai đoạn 2026 – 2030.

"Mặt khác, chất lượng giống hiện nay đang bị thoái hóa, sâu bệnh trên diện rộng, tới năm thứ 3, 4 thì hiện tượng chết đứng đối với loài cây keo xảy ra, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sản lượng thu hoạch của các chủ rừng...", bà Tuyết nêu vấn đề.

Lãnh đạo Công ty CP Woodsland Tuyên Quang kiến nghị Nhà nước cần có chính sách tín dụng ưu đãi cho người trồng rừng, có cơ chế cho vay vốn cho các công ty lâm nghiệp và hộ gia đình để trồng rừng gỗ lớn; quản lý chặt chẽ hành trình, nguồn gốc giống cây lâm nghiệp trước khi đưa vào ươm giống xuất bán ngoài thị trường; chính quyền địa phương cần tuyên truyền sâu rộng hơn nữa tới người trồng rừng về lợi ích của việc trồng rừng gỗ lớn...

Để đạt được mục tiêu trồng rừng đảm bảo nguyên liệu gỗ cho sản xuất đồ gỗ, các đại biểu đã thống nhất nhiều giải pháp cần phải thực hiện trong 5 năm tới. Đó là, đẩy mạnh việc áp dụng kỹ thuật trồng rừng thâm canh, nghiên cứu, chọn, tạo giống cây trồng lâm nghiệp, ưu tiên phát triển giống được sản xuất từ cây mô, hom để trồng rừng sản xuất.

Phấn đấu đến năm 2025, có ít nhất 90% diện tích rừng được trồng từ giống cây lâm nghiệp đã được công nhận; năng suất rừng trồng thâm canh giống mới trung bình 20 m3/ha/năm vào năm 2025 và 22 m3/ha/năm vào 2030.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh