Chuyển đến nội dung chính

5 nguyên nhân gây mất 2.850 ha rừng tự nhiên ở Quảng Nam

 Mưa bão gây sạt lở đất, nắng nóng kéo dài gây cháy rừng, khai thác gỗ trái phép, làm đường giao thông và công trình điện… là những nguyên nhân làm biến động giảm hơn 2.850 ha rừng tự nhiên ở Quảng Nam.

Ngày 30/4, Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Quảng Nam cho biết, sau khi nhận được Công văn số 2581/UBND-KTN (ngày 27/4/2022) của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam về việc giải trình làm rõ rừng tự nhiên năm 2021 giảm so năm 2020, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có báo cáo gửi Ủy ban nhân dân tỉnh giải trình về nguyên nhân sụt giảm 2.850 ha rừng tự nhiên.

Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Phạm Viết Tích cho biết, theo kết quả cập nhật diễn biến rừng năm 2021, tổng diện tích rừng tự nhiên trên địa bàn toàn tỉnh hơn 463.356,77 ha, giảm 2.850,44 ha so năm 2020.

Nhiều diện tích rừng tự nhiên tại huyện Bắc Trà My bị khai thác trái phép.

Giải trình về rừng tự nhiên bị giảm, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Phạm Viết Tích nêu ra 5 nguyên nhân.

Một là, cuối năm 2020, do mưa bão kéo dài, đặc biệt là trong tháng 10 năm 2020 gây sạt lở nên nhiều diện tích rừng tự nhiên bị giảm. Nhưng vì tình hình thời tiết mưa bão phức tạp nên đến năm 2021, các địa phương mới tiếp cận hiện trường để tổ chức đo đếm, cập nhật vào hệ thống theo dõi diễn biến rừng năm 2021 với diện tích rừng tự nhiên bị giảm là 1.992,06 ha; trong đó tại huyện: Phước Sơn (1.636 ha), Nam Trà My (127,65 ha), Bắc Trà My (109,13 ha), Tây Giang (108,5 ha) và Nam Giang (10,78 ha).

Hai là, trong năm 2021, tình hình thời tiết nắng nóng kéo dài, trên địa bàn tỉnh xảy ra nhiều vụ cháy rừng gây thiệt hại 143,24 ha rừng tự nhiên, cụ thể: Nam Giang (61,78 ha), Nông Sơn (39,86 ha), Bắc Trà My (12,6 ha), Đông Giang (15,8 ha), Phước Sơn (2,92 ha), Núi Thành (1,2 ha), Hiệp Đức (2,21 ha), Nông Sơn (0,36 ha).

Ba là, diện tích phá rừng trái pháp luật đã lập hồ sơ, xử lý theo quy định 17,89 ha, cụ thể: Bắc Trà My (2,1 ha), Đông Giang (1,54 ha), Đại Lộc (1,3 ha), Hiệp Đức (1,31 ha), Nông Sơn (0,36 ha), Núi Thành (1,47 ha), Phú Ninh (1,55 ha), Phước Sơn (0,14 ha), Thăng Bình (0,39 ha), Tiên Phước (7,73 ha).

Bốn là, diện tích rừng chuyển mục đích sử dụng của công trình đường giao thông, tuyến đường điện trên địa bàn tỉnh là 26,56 ha, cụ thể: Nông Sơn (10,65 ha), Tây Giang (8,33 ha), Bắc Trà My (6,83 ha) và Núi Thành (0,75 ha).

Diện tích rừng chuyển mục đích khi làm các dự án giao thông: Tuyến đường giao thông từ trung tâm huyện Tây Giang đi huyện Đông Giang (trên địa huyện Tây Giang) với diện tích: 8,33 ha rừng tự nhiên; Đường giao thông từ trung tâm huyện Tây Giang đi huyện Đông Giang (trên địa bàn huyện Tây Giang) với diện tích 8,33 ha rừng tự nhiên.

Diện tích rừng chuyển mục đích khi làm Dự án Đường dây 500kV Quảng Trạch-Dốc Sỏi trên địa bàn tỉnh Quảng Nam qua các huyện: Bắc Trà My (6,83 ha), Núi Thành (0,75 ha), Nông Sơn (10,65 ha), Đại Lộc (3,742 ha).

Năm là, trong năm 2021, các Hạt Kiểm lâm, Ban Quản lý rừng đã ứng dụng công nghệ trong việc đánh giá, theo dõi hiện trạng rừng; đồng thời tổ chức lực lượng rà soát diện tích rừng tự nhiên ngoài thực địa để đối chiếu với hồ sơ quản lý và đã lập hồ sơ bóc tách những diện tích là rẫy sản xuất, rừng trồng của người dân, các loại đất trống bị chồng lấn trên dữ liệu rừng tự nhiên nên đã bóc tách và cập nhật giảm 1.038,97 ha rừng tự nhiên trên địa bàn toàn tỉnh.

Trong đó, chủ yếu là rừng phục hồi và rừng nghèo kiệt, cụ thể tại các huyện: Hiệp Đức (183,28 ha), Nam Giang (164,52 ha), Đông Giang (139,73 ha), Tây Giang (136,23 ha), Nông Sơn (97,39 ha), Bắc Trà My (87,47 ha), Đại Lộc (42,46 ha), Duy Xuyên (2,94 ha), Núi Thành (27,03 ha), Nam Trà My (38,84 ha), Phú Ninh (11,68 ha), Tiên Phước (54,40 ha) và Phước Sơn (53,0 ha).

Đồng thời, các đơn vị, địa phương cũng đã rà soát cập nhật những diện tích đất chưa có rừng trạng thái DT2 (đất trống có cây gỗ tái sinh) trước đây nay đã phát triển thành trạng thái rừng phục hồi và rừng nghèo với tổng diện tích tăng thêm là 368,28 ha rừng tự nhiên.

Theo lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, do những nguyên nhân trên, nên trong năm 2021, tổng diện tích rừng tự nhiên trên địa bàn tỉnh Quảng Nam biến động giảm 2.850,44 ha…

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l