Chuyển đến nội dung chính

Hà Tĩnh: Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ bảo tồn các loài lan rừng quý hiếm

 

Vườn lưu trữ và nhân giống lan rừng của BQL KBTTN Kẻ Gỗ hiện đang lưu trữ 620 giò/28 loài, qua theo dõi các loài sinh trưởng và phát triển binh thường.

Qua khảo sát của ngành chuyên môn, Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Kẻ Gỗ (Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh) đang có những nguồn gen lan rừng đặc hữu, quý hiếm, được pháp luật Việt Nam bảo vệ.

Để có cơ sở đề xuất các giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học, khai thác, phát triển và sử dụng hiệu quả nguồn gen các loài lan, tháng 7/2020, Ban quản lý KBTTN Kẻ Gỗ thực hiện đề tài khoa học “Nghiên cứu, bảo tồn một số loài lan rừng quý, hiếm và có giá trị kinh tế tại Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ, tỉnh Hà Tĩnh”.

tm-img-alt
Ảnh minh họa

Anh Nguyễn Hữu Sơn - Cán bộ Phòng khoa học bảo tồn và hợp tác quốc tế (Ban quản lý KBTTN Kẻ Gỗ) chia sẻ, hiện nay, nhu cầu thị trường và nguồn lợi kinh tế từ những giá trị (chữa bệnh, thẩm mỹ) của các loài hoa lan mang lại khá lớn. Cùng với thực trạng thiếu việc làm và cuộc sống của người dân vùng đệm còn phụ thuộc nhiều vào nguồn lợi từ rừng là nguyên nhân làm suy giảm quá mức tài nguyên các loài lan phân bố tự nhiên trên địa bàn KBTTN Kẻ Gỗ nói riêng và trong tỉnh Hà Tĩnh nói chung.

Trong khi đó, công tác bảo tồn, lưu trữ, quản lý khai thác và sử dụng chưa được quan tâm đúng mức, chưa có biện pháp ngăn chặn hữu hiệu nên các loài lan dần cạn kiệt và đang có nguy cơ mất nguồn gen. Vì vậy, việc bảo tồn, phát triển nguồn gen các loài lan không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn là cơ sở để tái tạo lại nguồn tài nguyên đang bị khai thác cạn kiệt.

Thực hiện đề tài, nhóm nghiên cứu đã điều tra, thống kê được 28 loài lan thuộc 11 chi tại KBTTN Kẻ Gỗ. Trong đó, 11 loài trước đây đã được ghi nhận có ở KBTTN Kẻ Gỗ (do Trung tâm Môi trường và Phát triển nông hôn - Đại học Vinh ghi nhận năm 2011) và 17 loài lan ghi nhận được trong đợt điều tra này.

Theo đó, có 14 loài được ghi nhận qua quan sát trực tiếp ngoài thực địa; 3 loài được ghi nhận qua mẫu vật lưu giữ tại các hộ dân.

Vườn lưu trữ và nhân giống lan rừng của BQL KBTTN Kẻ Gỗ hiện đang lưu trữ 620 giò/28 loài, qua theo dõi các loài sinh trưởng và phát triển bình thường.

Mặc dù đây chưa phải là danh lục đầy đủ nhất, vì các tuyến điều tra hẹp, theo phỏng vấn còn nhiều loài chưa phát hiện, quan sát ngoài thực tế, tuy nhiên, đã bao hàm những loài lan đặc trưng của các hệ sinh thái ở KBTTN Kẻ Gỗ.

Đáng nói, có 4 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam, gồm: lan gấm trung bộ (lan kim tuyến), kiều tím, hạc vỹ, nhất điểm hồng. Riêng lan gấm trung bộ đã được quy định tại Nghị định 06/2019/NĐ-CP về “Thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và nhiều loài đặc hữu hẹp của vùng Bắc Trung Bộ và của Việt Nam”.

Giám đốc Ban quản lý KBTTN Kẻ Gỗ Nguyễn Viết Ninh - chủ nhiệm đề tài cho hay: Chúng tôi đã xác định được bản đồ phân bố, bản đồ điểm nóng các loài lan rừng tại KBTTN Kẻ Gỗ. Theo đó, đề xuất các giải pháp bảo tồn các loài lan quý hiếm. Ban cũng đã xây dựng được vườn lưu trữ và nhân giống lan rừng rộng 150m2. Hiện tại, số lượng lưu trữ tại vườn là 620 giò/28 loài, qua theo dõi các loài sinh trưởng và phát triển bình thường. Đồng thời, đơn vị triển khai nhân giống bằng phương pháp tách nhánh và thân giả hành, hiện nay, đã nhân giống được 1.380 cây giống/5 loài có giá trị kinh tế cao.

Theo đề xuất của nhóm nghiên cứu, thời gian tới, các ngành chức năng cần thực hiện việc giám sát diễn biến quần thể đối với 2 loài kim tuyến trung bộ và lan kiều tím. Thu thập đúng pháp luật một lượng giới hạn 2 loài lan quý hiếm đề làm nguồn giống, thực hiện nhân giống 2 loài lan quý hiếm phục vụ công tác bảo tồn (phục hồi các quần thể trong tự nhiên) và sản xuất thành hàng hóa nhằm giảm áp lực khai thác của loài này ngoài tự nhiên.

Bên cạnh đó, tiến hành nghiên cứu chuyên sâu về nhân giống và gây trồng các loài lan quý hiếm nhằm phục vụ công tác bảo tồn và phát triển kinh tế cho người dân vùng đệm khu bảo tồn. Theo đó, cần chuyển giao kỹ thuật để người dân vùng đệm khu bảo tồn có thể trồng, nhân giống lan rừng, vừa tạo thu nhập vừa hỗ trợ có hiệu quả cho công tác bảo tồn và phát triển các loài lan quý tại Hà Tĩnh.

Tuấn Minh

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh