Chuyển đến nội dung chính

Ngành gỗ đối mặt với bài toán thiếu vùng nguyên liệu

 Liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao, đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu chung của cả nước, song ngành gỗ cũng đang gặp thách thức lớn về nguồn nguyên liệu.

Ảnh minh họa
Đồ họa: Đan Nguyễn

Tăng trưởng xuất khẩu cao

Chiếm 4,4% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước và khoảng 3% tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ toàn cầu, gỗ và sản phẩm gỗ là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.

Từ năm 2004, mặt hàng này đã tham gia “câu lạc bộ” xuất khẩu trên 1 tỷ USD và liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu khá cao. Năm 2021, bất chấp ảnh hưởng của Covid-19, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ vẫn đạt 14,809 tỷ USD, tăng 19,7% so với năm 2020, giữ vị trí thứ 6 về kim ngạch xuất khẩu trong các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam và dẫn đầu trong nhóm nông - lâm - thủy sản.

Đặc biệt, ngành gỗ xuất siêu khá lớn. Năm 2021, ngành gỗ xuất siêu 11,88 tỷ USD; quý I/2022 xuất siêu 3,348 tỷ USD, tăng hơn 250 triệu USD so với cùng kỳ năm trước.

Hiện nay, gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam có mặt ở 40 thị trường trên thế giới. Năm 2021, có 10 thị trường đạt trên 100 triệu USD, gồm Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Anh, Canada... Hai tháng đầu năm 2022, có 14 thị trường đạt trên 10 triệu USD.

Trong những năm qua, ngành gỗ đã tạo ra nhiều việc làm, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội. Năm 2022, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ kỳ vọng vượt mốc 15,6 tỷ USD và tiếp tục xuất siêu lớn hơn năm 2021.

Thiếu vùng nguyên liệu tập trung

Một trong những thách thức lớn nhất của ngành gỗ là nguồn nguyên liệu đầu vào. Năm 2020, tổng nhu cầu gỗ cho chế biến khoảng 38,5 triệu m3 quy tròn, trong đó, nguồn nguyên liệu trong nước đáp ứng khoảng 30 triệu m3 (hơn 20 triệu m3 từ rừng trồng, gần 10 triệu m3 từ cây trồng phân tán và gỗ cao su); nhập khẩu khoảng 8,5 triệu m3.

Ngành gỗ đang nhập khẩu nguyên liệu từ 28 thị trường chủ yếu. Nhập khẩu nguyên liệu chiếm tỷ trọng lớn dẫn đến một số hạn chế, như phụ thuộc về nguồn, về giá...

Đề án Phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ bền vững, hiệu quả giai đoạn 2021 - 2030 đã được Chính phủ phê duyệt đặt mục tiêu: đến năm 2025, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 20 tỷ USD, tiêu dùng nội địa đạt 5 tỷ USD; đến năm 2030, xuất khẩu đạt 25 tỷ USD, tiêu dùng nội địa đạt trên 6 tỷ USD. Như vậy, có thể thấy, nhu cầu nguồn nguyên liệu của ngành gỗ rất lớn.

Sản lượng gỗ khai thác liên tục tăng, nhưng ngành gỗ thiếu vùng nguyên liệu tập trung. Ở trong nước, tổng diện tích rừng đạt hơn 14,677 triệu ha (rừng tự nhiên: 10,279 triệu ha; rừng trồng: gần 4,4 triệu ha), bao gồm 7,480 triệu ha rừng sản xuất; 5,257 triệu ha rừng phòng hộ, còn lại là rừng đặc dụng.

Trong khi đó, ngành gỗ thuộc 6 nhóm ngành thực hiện trách nhiệm rủi ro theo Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP26), tới năm 2030 phải dừng việc sử dụng gỗ tự nhiên. Rừng trồng giao cho các hộ gia đình chủ yếu là gỗ nhỏ. Chưa kể, tình trạng cháy rừng, chặt phá rừng phổ biến.

Để khắc phục vấn đề này, theo các chuyên gia, cần có cơ chế, chính sách đầu tư nguồn nguyên liệu ở trong nước, xây dựng chuỗi trồng rừng - sản xuất nguyên liệu trung gian - chế biến sâu. Đặc biệt, phải bảo vệ rừng, giảm thiểu cháy rừng; giám sát, xử lý nghiêm tình trạng chặt phá rừng; hỗ trợ lương thực cho người dân để ngăn chặn tình trạng phát nương làm rẫy, du canh, du cư… Cùng với đó, cần đóng dần cửa rừng tự nhiên; kiểm tra xử lý vi phạm xuất xứ hàng hóa; hỗ trợ doanh nghiệp nội địa.

Ở đầu ra, song song với việc tập trung khai thác, phát triển các thị trường truyền thống, ngành gỗ cần mở rộng thị trường để tránh “bỏ trứng vào một giỏ”. Mặt khác, cần nâng cao năng lực sản xuất để đáp ứng nhu cầu nhập khẩu lô hàng lớn trong thời gian ngắn của các nhà nhập khẩu nước ngoài…

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l