Chuyển đến nội dung chính

Giá gỗ nhập khẩu tăng cao, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam bày cách chủ động hàng trong nước

 Theo Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam Đỗ Xuân Lập, ngành chế biến gỗ xuất khẩu của Việt Nam đang trải qua những biến động rất lớn trong thời gian vừa qua. Dịch Covid-19 và gần đây là xung đột giữa Nga và Ukraine làm cho cước vận chuyển tăng phi mã, giá gỗ nguyên liệu nhập khẩu tăng cao.

 Bình luận 0
Giá gỗ nhập khẩu tăng cao, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam bày cách chủ động hàng trong nước - Ảnh 1.

Các đại biểu trao đổi tại Hội nghị “Phát triển vùng nguyên liệu phục vụ ngành công nghiệp chế biến gỗ, xuất khẩu” ngày 22/4. Ảnh chụp màn hình

Cần chủ động được nguồn gỗ nguyên liệu đầu vào

Chủ tịch Hiệp hội gỗ và Lâm sản Việt Nam cho biết, thống kê gỗ nhập khẩu từ Tổng cục Hải quan cho thấy chỉ trong vòng 3 tháng đầu 2022, giá gỗ thông tròn nhập khẩu đã tăng 52%, gỗ thông xẻ nhập khẩu tăng 38%, gỗ sồi xẻ tăng 36%. 

ADVERTISING

Bên cạnh đó, thời gian nhập khẩu kéo dài dẫn đến các doanh nghiệp phải chậm các hoạt động sản xuất. Các yếu tố này đang trực tiếp làm giảm lợi thế cạnh tranh của ngành.

Ông Đỗ Xuân Lập cho rằng: Bài toán cần thiết hơn bao giờ hết đặt ra cho ngành hiện nay là làm thế nào Việt Nam cần chủ động được nguồn gỗ nguyên liệu đầu vào, tiến tới thay thế nguồn gỗ nhập khẩu hiện đang ở con số 5-6 triệu m3 mỗi năm như hiện nay. 

Làm thế nào để Việt Nam có thể phát triển được nguồn gỗ nguyên liệu trong nước là gỗ lớn, có chất lượng, đa dạng về chủng loại loài và bền vững? Đây là những câu hỏi hết sức cấp thiết mà ngành cần phải giải quyết trong thời gian tới nếu chúng ta muốn giữ vững lợi thế cạnh tranh của ngành.

"Chính phủ Việt Nam ưu tiên, khuyến khích việc phát triển gỗ rừng trồng là gỗ lớn, có chứng chỉ bền vững. Điều này đã thể hiện rõ trong Chiến lược Phát triển ngành lâm nghiệp giai đoạn 2020 -2030 và tầm nhìn tới 2050, cũng như trong Đề án phát triển bền vững ngành chế biến gỗ vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào tháng 3 vừa qua.

Bên cạnh các cơ chế chính sách kể trên, các doanh nghiệp trong ngành cũng vô cùng nỗ lực trong việc tìm kiếm cơ hội tham gia trực tiếp vào chuỗi cung trồng rừng gỗ lớn, có chứng chỉ. 

Chúng ta đã thấy các mô hình doanh nghiệp thuộc Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam VINAFOR đã có những diện tích rừng đạt FSC, các doanh nghiệp như Woodsland, NAFOCO, Scancia Pacific kết hợp với các hộ trồng rừng ở Tuyên Quang, Yên Bái, Thanh Hóa, Đồng Nai, v.v. đã đạt chứng chỉ FSC. 

"Nhiều doanh nghiệp, bao gồm cả một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài như Biomass Fuel Việt Nam cũng đang nỗ lực liên kết phát triển gỗ có chứng chỉ FSC. Nguồn cung gỗ rừng trồng có chất lượng là nguồn gỗ nguyên liệu đầu vào cho sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng cao", ông Lập chia sẻ.

Tuy nhiên, theo Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, nếu chúng ta nhìn vào kết quả thực tế đến nay của việc trồng rừng gỗ lớn, đặc biệt là trồng rừng có chứng chỉ bền vững FSC thì thấy còn nhiều hạn chế. 

Con số thống kê của nhóm nghiên cứu của các Hiệp hội Gỗ và Forest Trends cho thấy tính đến hết tháng 3/2022 tổng diện tích rừng trồng là rừng sản xuất có chứng chỉ FSC của Việt Nam đạt gần 180.000ha, tương đương khoảng 5% trong tổng số diện tích rừng sản xuất của Việt Nam. 

Nếu tính cả diện tích rừng đạt chứng chỉ VFCS/PEFC (khoảng 50.000ha cho tới nay) thì tổng diện tích rừng có chứng chỉ bền vững mới chỉ đạt dưới 7% tổng diện tích rừng trồng là rừng sản xuất.

Bên cạnh đó, tỷ trọng gỗ rừng trồng đi vào chế biến đồ gỗ của thấp, chỉ chiếm 30-40% trong tổng lượng gỗ khai thác. Phần còn lại 60-70% đi vào dăm và viên nén. Năng suất rừng trồng tới nay cũng còn rất hạn chế. Nhiều diện tích mới chỉ đạt 10-15 m3/ha/năm, thấp hơn nhiều so với tiềm năng.

Theo ông Nguyễn Xuân Diện, Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NNPTNT), năm 2021, cả nước có gần 14,68 triệu ha rừng, trong đó: Rừng đặc dụng: 2,17 triệu ha; Rừng phòng hộ: 4,68 triệu ha; Rừng sản xuất: 7,82 triệu ha, gồm: Rừng tự nhiên: 4,13 triệu ha; rừng trồng: 3,69 triệu ha.

Nguồn nguyên liệu gỗ rừng trồng tập trung phục vụ chế biến gỗ được khai thác từ 3,69 triệu ha rừng trồng sản xuất.

Về phát triển rừng trồng gỗ lớn, cả nước có 489.016ha rừng trồng gỗ lớn, trong đó: các tỉnh miền núi phía Bắc có 325.927 ha; Đồng bằng Bắc bộ 1.017 ha; các tỉnh vùng Bắc trung bộ: 121.698ha; Duyên hải Nam trung Bộ: 14.040 ha; Tây Nguyên: 4.545 ha; Đông Nam Bộ: 21.525 ha và vùng Tây Nam Bộ: 262 ha.

Giá gỗ nhập khẩu tăng cao, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam bày cách chủ động hàng trong nước - Ảnh 2.

Theo ông Nguyễn Tiến Lâm - Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Chế biến lâm sản ngoài gỗ Nghệ An, nhu cầu gỗ lớn làm nguyên liệu phục vụ xuất khẩu của các doanh nghiệp rất lớn. Ảnh: Công nhân chăm sóc rừng gỗ lớn ở Nghệ An ( Ảnh: Việt Khánh).

Tích cực hỗ trợ doanh nghiệp trồng rừng gỗ lớn

Ông Nguyễn Tiến Lâm - Chủ tịch Hiệp hội Chế biến gỗ và lâm sản ngoài gỗ Nghệ An cho biết, mỗi năm Việt Nam trồng mới 1,5 triệu ha rừng nhưng chỉ 10% trong số đó là gỗ lớn phục vụ chế biến, còn lại là phục vụ làm dăm gỗ, viên nén... giá trị thấp và rất thấp.

Theo ông Lâm, nhu cầu của doanh nghiệp về gỗ lớn rất lớn nhưng hiện nay tại các vùng trồng rừng ở Việt Nam lại không đáp ứng được. 

"Để giải được bài toán về nhu cầu gỗ lớn, nhà nước cần đặt hàng các nhà khoa học nghiên cứu tạo ra được các loại giống cây gỗ lớn chất lượng cao để cung cấp cho các doanh nghiệp trồng và nhân rộng diện tích. Thứ 2 là đưa ra quy trình trồng gỗ lớn hiệu quả cao nhất, có thể trồng dược liệu dưới tán cây gỗ lớn...", Chủ tịch Hiệp hội Chế biến gỗ và lâm sản ngoài gỗ Nghệ An kiến nghị.

Bà Đỗ Thị Bạch Tuyết – Chủ tịch HĐQT Công ty CP Woodsland Tuyên Quang cho hay: Đến nay, Woodsland đã và đang liên kết, hợp tác để thực hiện phương án quản lý rừng bền vững và được cấp chứng chỉ rừng từ 2015 đến nay là 28.051,51 ha (gồm 4 công ty lâm nghiệp và 10 nhóm hộ).

"Việc xây dựng vùng trồng rừng gỗ lớn (trước mắt trong phạm vi chứng chỉ rừng được cấp) là mục tiêu và chiến lược của Woodsland. Hiện tại, chúng tôi đã cùng phối hợp với các chủ chứng chỉ gồm các công ty lâm nghiệp và nhóm hộ gia đình xây dựng phương án quản lý rừng tối thiểu 7 năm trong kế hoạch quản lý rừng để có thể tạo vùng nguyên liệu gỗ đáp ứng nhu cầu chế biến...", bà Tuyết chia sẻ.

Tuy nhiện, hiện việc duy trì cũng như phát triển vùng nguyên liệu gỗ lớn với chu kỳ rừng trồng 7 năm trở xuống của Woodsland còn gặp rất nhiều khó khăn, nguyên nhân chủ yếu là vốn đầu tư giữ lại rừng hiện đang rất khó khăn đối với cả các công ty lâm nghiệp và hộ gia đình; chất lượng giống hiện nay đang bị thoái hóa, sâu bệnh trên diện rộng, tới năm thứ 3, 4 thì hiện tượng chết đứng đối với loài cây keo xảy ra, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sản lượng thu hoạch của các chủ rừng...

Theo đó, bà Tuyết kiến nghị Nhà nước cần có chính sách tín dụng ưu đãi cho người trồng rừng, có cơ chế cho vay vốn cho các công ty lâm nghiệp và hộ gia đình để trồng rừng gỗ lớn; quản lý chặt chẽ hành trình, nguồn gốc giống cây lâm nghiệp trước khi đưa vào ươm giống xuất bán ngoài thị trường; chính quyền địa phương cần tuyên truyền sâu rộng hơn nữa tới người trồng rừng về lợi ích của việc trồng rừng gỗ lớn...

Để phát triển vùng nguyên liệu phục vụ xuất khẩu hiệu quả, ông Nguyễn Tuấn Thanh - Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Bình Định cho hay: Việc trồng rừng cây gỗ lớn rất khó khăn, phát triển rừng gỗ lớn cần thời gian dài từ 10 năm đến 15 năm. 

Do đó, ông Thanh kiến nghị Nhà nước cần có cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp để có thể phát triển cả chuỗi từ trồng rừng, thu mua, chế biến và xuất khẩu.

Năm 2021 Việt Nam nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 2,93 tỷ USD, tăng 14,5% so với năm 2020. Thị trường nhập khẩu trên 100 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó chủ yếu từ một số quốc gia như Trung Quốc, Mỹ, Braxin, Thái Lan, Chi Lê... với tổng giá trị nhập khẩu 1,62 tỷ USD, chiếm 55,6% giá trị nhập khẩu.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l