Chuyển đến nội dung chính

Không để người dân sống dưới gầm thảm họa - Bài 3: Rừng đổ gục, người bổ nhào

 Rừng gục ngã tới đâu, sạt lở đất đá tới đó. Để rồi, mỗi mùa mưa lũ tới, những quả “bom nước” từ thượng nguồn tràn về cuốn phăng nhà cửa, đất đai, hoa màu và tính mạng người dân.

Hàng loạt dự án biệt thự ven sườn núi “bao vây” TP. Nha Trang (tỉnh Khánh Hòa)

Hàng loạt dự án biệt thự ven sườn núi “bao vây” TP. Nha Trang (tỉnh Khánh Hòa)

Bài 3: Rừng đổ gục, người bổ nhào

Rừng gục ngã tới đâu, sạt lở đất đá tới đó. Để rồi, mỗi mùa mưa lũ tới, những quả “bom nước” từ thượng nguồn tràn về cuốn phăng nhà cửa, đất đai, hoa màu và tính mạng người dân.

Méo mặt vì dự án trên núi, sấp ngửa vì thủy điện

Từ TP. Nha Trang, hướng mắt về những núi Chín Khúc, núi Hòn Xện, Hòn Rớ…, rừng bị phá tan hoang, màu xanh biến mất, thay vào đó là màu đỏ quạch của đất được cài răng lược bằng những dự án đô thị Cửu Long Sơn Tự, Biệt thự sông núi Vĩnh Trung, Dự án Khu dân cư Hoàng Phú, Dự án Chỉnh trang núi Hòn Xện, Dự án Khu biệt thự Nha Trang Sea Park… Những biệt thự được dựng lên tưởng là hoành tráng, đẹp đẽ, nhưng lại làm cho bức tranh thiên nhiên thêm xấu xí, thương tích, hoang tàn.

Những ngày cuối tháng 10, đầu tháng 11/2021, mưa to liên tục, nước từ những sườn đồi, dãy núi tống thẳng xuống thành phố, khiến Nha Trang “thất thủ”. Đường phố ngập sâu, đứt gãy do sạt lở. Khu dân cư, đô thị ven sườn đồi hay trên núi nằm trong tình trạng báo động đỏ, gần 300 hộ dân đã phải di dời khẩn cấp ngay trước mùa mưa bão để bảo toàn tính mạng, tài sản.

“Có tới 4.940 người thuộc 1.331 hộ dân ở 4 khu vực tại các khu dân cư thuộc tổ 2 - thôn Trường Sơn, tổ 3 - thôn Trường Hải (phường Vĩnh Trường) và 2 thôn Thành Phát, Thành Đạt (xã Phước Đồng) đang bị sạt lở đe doạ”, lãnh đạo TP. Nha Trang cho biết.

Chưa khi nào, người dân dưới những chân núi bao quanh TP. Nha Trang thấy phận mình mong manh trước thiên tai, lũ lụt như hiện nay. Hiểm họa không chỉ đến từ phía biển, mà ẩn hiện tứ phía và có thể ập đến bất cứ lúc nào. “Lũ từ đỉnh núi ào về như tên bắn. Chưa đến 10 giây, nước lũ kéo sập nhà, cuốn phăng đồ đạc, vùi lấp nhân mạng và phủ kín 10 ngôi nhà khác”, ông Phạm Công Dũng (tổ dân phố 1, phường Vĩnh Hòa, TP. Nha Trang) kể lại vụ vỡ hồ bơi tại Dự án Khu nhà ở cao cấp Hoàng Phú xây trên núi Hòn Xện tháng 11/2018.

Sau trận lũ đó, đất đá còn chưa kịp kết dính, thì Nha Trang lại tiếp tục đối diện với hiểm họa ngày càng nhiều hơn, nguy hiểm hơn. Năm 2018, xã Phước Đồng cũng gánh chịu thảm họa thiên tai sạt lở khiến 14 người thiệt mạng, 100 căn nhà đổ sập hoàn toàn, nên mùa mưa lũ năm nay, cứ mỗi khi nghe tin dự báo mưa lớn và kéo dài, những hộ dân đang sinh sống ven sườn núi lại thấp thỏm lo sợ.

Đứng dưới chân núi nhìn lên đỉnh trọc lóc, những tảng đá trên cao bất động, nhưng luôn ẩn chứa hiểm họa, bà Mai Thị Hồng Thu, người xã Phước Đồng lo lắng: “Hãy làm gì đó cho dân an toàn, chứ để vậy miết, mưa to, kéo dài, nửa đêm lỡ có chuyện gì xảy ra là mất mạng”. Bà Nguyễn Thị Uyên, hàng xóm của bà Thu, góp thêm những bất an: “Chục năm lại đây, dân lo chạy sạt lở vì ngọn núi đá trơ trọi xuất hiện 3 vết nứt treo trên đầu như án tử”.

Theo ông Bùi Cao Pháp, Phó chủ tịch UBND xã Phước Đồng, ở bên trên các khu dân cư có một số dự án lớn đang triển khai, địa phương xác định có 18 điểm nguy cơ sạt lở. “Xã Phước Đồng có nhiều khu đất rừng chuyển thành rừng sản xuất, sau đó chuyển thành đất ở phân lô trái phép làm tăng nguy cơ sạt lở, vùi lấp cho khu vực hạ du mỗi khi có mưa to”, ông Pháp cho biết.

Mưa to, thủy điện kết hợp xả lũ bất thình lình, dân vùng hạ du rơi vào cảnh màn trời, chiếu đất, ngoi ngóp trong nước lũ. Ở tỉnh Quảng Nam, tháng 10/2020, Nhà máy Thủy điện Đắk Mi 4 xả lũ khiến hàng trăm hộ dân ở xã Cà Dy và thị trấn Thạnh Mỹ (huyện Nam Giang) bị cuốn trôi hết tài sản, nhà cửa. Ông Nguyễn Năng Hoàng, nhà ở đầu cầu Xơi (làng Rô, xã Cà Dy) bức xúc: “Từ khi xả lũ đến nay, họ chỉ cử 1 nhân viên xuống kiểm tra sơ sơ, rồi mất hút luôn, không thấy động tĩnh gì…”.

Từ khi các nhà máy thủy điện A Vương, Sông Bung 2, Sông Bung 4, Đăk Mi 4 được xây dựng trên hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn, không biết bao nhiêu lần, người dân huyện Đại Lộc và TP. Hội An bị “đánh úp”. Sự bàng hoàng của những lần chạy lũ vẫn hằn in trong tâm trí họ, như những vết nước lũ còn hằn in trên tường nhà sau mỗi lần nước rút.

“Đêm khuya thanh vắng, cả nhà đang ngủ say, thì bất thình lình tiếng kẻng ở đầu làng rền vang lên gấp gáp thúc giục chạy lũ. Vợ chồng, con cái bật dậy leo lên phía gác nhà đã làm sẵn để trú tránh mỗi khi có lũ tràn về. Nhanh như nước lũ và tàn phá khủng khiếp như nước lũ, nước tràn vào nhà, dâng cao, cuốn đồ đạc chìm nghỉm; trâu bò, lợn gà lóp ngóp không thể nào cứu vớt được”, bà Hoàng Thị Ngọc Diễm, ở thị trấn Ái Nghĩa, huyện Đại Lộc (Quảng Nam) kể về nỗi ám ảnh với tiếng kẻng chạy lũ hàng năm.

Nói về những trận mưa lũ tại địa phương, ông Nguyễn Văn Sơn, Chủ tịch UBND TP. Hội An cho biết, chục năm trước đây, mưa to phía thượng nguồn, lũ sông Hoài tràn vào Hội An cũng xuất hiện, nhưng dâng lên chậm, người dân có thời gian chạy lũ, kê đồ đạc. Nhưng gần đây, cứ mưa là nước lũ lên rất nhanh. Mưa kết hợp với thủy điện xả nước tại các hồ khiến người dân trở tay không kịp, thiệt hại do ngập lũ hàng năm kể không xiết. Nước lũ dâng nhanh thần tốc, sông Hoài lênh láng, mênh mông nước. Nước theo các tuyến phố cổ len lỏi vào những căn nhà cổ đe dọa tính mạng người dân, làm hư hại đồ đạc, khiến nhà cửa có thể đổ sập bất cứ khi nào.

“Mưa quá to, khoảng 2 giờ sáng nước đã lên cao, tiếng kẻng dồn dập vang lên, người dân nháo nhào gọi nhau chạy lũ, mưa gió như quất vào mặt. Nước lũ lên nhanh ngoài sức tưởng tượng, rất ghê gớm. Người dân trắng đêm chạy lũ, rất gian nan”, ông Nguyễn Văn Minh, xã Phương Điền (huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh) kể lại lần chạy lũ khi Nhà máy Thủy điện Hố Hô xả lũ năm 2016.

“Vạch mặt” thủ phạm

“Tội đồ” góp phần làm mưa lũ ngày càng lớn, xói lở ngày càng tăng tại miền Trung mỗi mùa lũ chính là những dự án thủy điện được xây dựng chi chít trên các lưu vực sông phía thượng nguồn; những dự án núp dưới danh nghĩa khu đô thị sinh thái, khu sinh thái tâm linh, sân golf đẳng cấp hay nghỉ dưỡng sang chảnh…

33.200 ha rừng tự nhiên bị tàn phá tại 26 tỉnh (năm 2019), đặc biệt là khu vực Tây Nguyên và miền Trung, trong đó:

- 11.400 ha tại Đắk Lắk

- 7.100 ha tại Đắk Nông

- 3.300 ha tại Quảng Bình

89% diện tích rừng tự nhiên ở Tây Nguyên và miền Trung bị mất do chuyển mục đích sử dụng rừng tại các dự án được duyệt; 11% do phá rừng trái pháp luật.

Nguồn: Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)

Từ sự tham lam quá mức của con người, nhiều ngọn núi, sườn đồi đã được cấp phép vô tội vạ. Mỗi một chữ ký được đưa ra, lại có thêm hàng chục, hàng trăm héc-ta rừng bị đốn gục, hàng chục nhân mạng bị vạ lây. Vụ việc núi Chín Khúc tại tỉnh Khánh Hòa; chuyển đổi đất rừng làm thủy điện ở Quảng Nam, Quảng Ngãi; “bốc hơi” 257 ha rừng tại Dự án Sài Gòn - Đại Ninh; sân golf Đak Đoa (Gia Lai) ảnh hưởng đến gần 150 ha đất rừng; Khu biệt thự phía Bắc trung tâm huyện Kon Plông (Kon Tum); phá rừng phòng hộ ở Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên... đang tiếp tục là những hồi chuông cảnh báo cho sự trả giá đắt của con người trong việc xâm hại thiên nhiên.

Chuyên gia về biến đổi khí hậu và quản lý thiên tai, TS. Nguyễn Ngọc Huy (Đại học Tokyo) cho rằng, mất rừng đã làm mất đi lớp thực bì vô cùng quan trọng ở các khu rừng nguyên sinh phía Đông Trường Sơn, Tây Trường Sơn, khu vực Tây Nguyên và cả phần rừng bên Lào, Campuchia vốn rất quan trọng trong điều hòa khí hậu của Việt Nam.

Mặc dù, theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện có hiệu quả kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 - 2020, làm tăng tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc từ 39,7% (năm 2011) lên 42% (năm 2020).

Tuy nhiên, theo TS. Nguyễn Ngọc Huy, những diện tích rừng nguyên sinh bị mất đi được thay thế bằng diện tích trồng cây công nghiệp đã biến các khu rừng hỗn giao thành rừng độc canh loài. Bản chất các khu rừng này không có chức năng giữ nước, điều hòa khí hậu, mà chỉ ngốn nước và ngốn rất nhiều nước. Miền Trung lại có địa hình ngắn và dốc, khi mưa to kéo dài là xảy ra lũ lụt, sạt lở.

Đồng quan điểm với các chuyên gia, Tổng cục Phòng, Chống thiên tai (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) nhận định: “Nạn chặt phá rừng, phá rừng đầu nguồn để khai thác gỗ, phát triển nông nghiệp… gây ra sự suy giảm thảm thực vật ở lưu vực; khả năng cản trở dòng chảy khi mưa lũ giảm khiến tốc độ di chuyển của mưa lũ nhanh hơn. Bên cạnh đó, việc phát triển hệ thống thủy điện cũng là một trong những nguyên nhân làm mất rừng và tăng lũ vào mùa mưa”.

Nhiều năm nghiên cứu và giảng dạy về quản lý rừng ngập mặn, PGS-TS. Viên Ngọc Nam (Trường đại học Nông lâm TP.HCM) chia sẻ: “Những năm 1995 - 2000 là thời kỳ bùng nổ của các hoạt động chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng, đặc biệt là sự phát triển ồ ạt, thiếu kiểm soát của các công trình thủy điện nhỏ khiến cho diện tích lớn các khu rừng bị tàn phá. Các nhà máy thủy điện cũng khiến cơ cấu địa chất ở các vùng đồi núi, vốn đã không ổn định, càng trở nên nhạy cảm hơn, khiến các vụ sạt lở xảy ra ngày một thường xuyên và nghiêm trọng hơn”.

PGS-TS. Trần Tân Văn, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Địa chất cũng chỉ rõ: “Cản nước, giữ nước chỉ có thể thực hiện khi có thảm thực vật nguyên sinh nhiều tầng tán của rừng nguyên sinh. Trong khi đó, thảm thực vật tái sinh, rừng sản xuất cơ bản chỉ có một tầng, một tán, nên khả năng hấp thụ nước, làm chậm lũ rất kém. Hậu quả là sạt lở đất, sụt trượt đất đá có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong mùa mưa”.

Theo số liệu từ Bộ Công thương, toàn miền Trung - Tây Nguyên hiện có 54 thủy điện bậc thang (tổng công suất 7.025 MW) và 156 thủy điện nhỏ (tổng công suất 1.565 MW) đang hoạt động. Ngoài ra, còn nhiều dự án đang thi công và đã được bổ sung quy hoạch

Riêng tỉnh Quảng Nam có 10 thủy điện bậc thang lớn trên thượng nguồn sông Thu Bồn - Vu Gia đang hoạt động và đang xây dựng đưa vào hoạt động, với năng lực phát điện gần 1.200 KW. Ngoài ra, có 36 thủy điện vừa và nhỏ (đã loại 6 thủy điện), cơ bản có một nửa đi vào hoạt động, nửa còn lại đang trong quá trình triển khai cũng sẽ đưa vào vận hành trong thời gian tới với công suất phát điện 560 KW.

(Còn tiếp)

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh