Chuyển đến nội dung chính

Gia Lai dựa vào dân để giữ rừng

 VOV.VN - Thực tế cho thấy, chính sách trả dịch vụ môi trường rừng cho các cộng đồng dân cư đã mang lại hiệu quả trong công tác giữ rừng tại Gia Lai, giúp người dân dần thay đổi thói quen, hạn chế xâm hại rừng.

0 seconds of 0 secondsVolume 90%
00:00
00:00
 

Hiện nay, tại tỉnh Gia Lai có hơn 468.000 ha rừng được chi trả dịch vụ môi trường rừng cho các đơn vị nhận khoán bảo vệ.

Theo phân công của làng Kon Chrah, giữa tháng 11/2021 này, ông Băk và 2 hộ dân khác cùng các cán bộ Ban quản lý Rừng phòng hộ Hra (xã Hra, huyện Mang Yang) đi tuần tra trên diện tích hơn 950 ha rừng được giao khoán, bảo vệ.

Ông Băk cho biết, mỗi đợt đi tuần mất khoảng 2 ngày đêm. Nếu như trước đây, người dân trong làng khai thác cây rừng để làm nhà, hay phát rừng làm rẫy; thì nay dân làng Kon Chrah sẽ cùng giữ rừng, và được chi trả 400.000 đồng/1 ha/năm. Chia ra trung bình mỗi hộ dân được 9,5 triệu đồng mỗi năm từ việc nhận giao khoán, bảo vệ rừng. Đây là nguồn kinh phí ổn định giúp người dân cải thiện cuộc sống.

“Trong làng, chúng tôi cũng tuyên truyền rất nhiều. Rừng Nhà nước giao cho chúng tôi, thì làng không được phá rừng, không được đi đốt nương rẫy lung tung. Nếu phát hiện làm nương rẫy, chúng tôi báo cơ quan. 6 tháng, Nhà nước phát tiền một lần, thì chúng tôi cũng đỡ hơn, xoá đói, giảm nghèo”, ông Băk cho biết.

Ông Nguyễn Văn Chín, Trưởng Ban Quản lý rừng phòng hộ Hra, huyện Mang Yang cho biết, tổng diện tích đất lâm nghiệp đơn vị được giao bảo vệ là hơn 13.800 ha, trong đó có hơn 10.400 ha rừng tự nhiên. Rừng tại đây có trữ lượng gỗ cao, nhiều loại có giá trị. Rừng sát Quốc lộ 19, sát với nương rẫy của người dân nên công tác bảo vệ rừng có giai đoạn gặp nhiều khó khăn.

Tuy nhiên, từ khi thực hiện giao khoán hơn 6.400 ha rừng cho 376 hộ dân, chủ yếu là người Bahnar ở 12 cộng đồng sống gần rừng, thì hiệu quả bảo vệ rừng được nâng cao rõ rệt.  

“Trong công tác quản lý và bảo vệ rừng, dựa vào dân là chủ yếu. Thứ hai là tăng cường công tác tuyên truyền, vận động; thực hiện tốt vai trò người uy tín trong cộng đồng để tuyên truyền, giác ngộ người dân. Nhiều năm nay, trên địa bàn chúng tôi là không có hiện tượng phát lấn chiếm đất rừng. Rừng chúng tôi quản lý, bảo vệ được giữ vững. Qua các lần thanh tra, kiểm tra, diện tích rừng của chúng tôi không bị suy giảm”, ông Nguyễn Văn Chín, Trưởng Ban Quản lý rừng phòng hộ Hra cho biết thêm.

Ông Nguyễn Xuân Thưởng, Phó Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển Rừng tỉnh Gia Lai cho biết, năm 2021, tỉnh Gia Lai có hơn 468.700 ha rừng được chi trả dịch vụ môi trường rừng. Trong đó, có 123.000 ha rừng được giao cho trên 10.600 hộ dân tại các cộng đồng dân cư, chủ yếu là người Jrai, Bahnar sinh sống gần rừng bảo vệ.

Việc chi trả kinh phí giao khoán, bảo vệ rừng có ý nghĩa rất lớn đối với người dân địa phương, bởi đây là nguồn tiền ổn định để bà con mua cây con giống, nông cụ, đầu tư, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Khi đời sống người dân được nâng cao, thì sẽ giảm phụ thuộc vào rừng, góp phần giữ rừng.

“Trên 10.600 người dân cùng bảo vệ rừng, thì nếu có phá rừng làm rẫy thì người ta phát hiện rất nhanh. Tất cả người dân sống gần rừng, đặc biệt là người dân tộc thiểu số đều được hưởng tiền dịch vụ môi trường rừng. Từ thu nhập, người ta thấy được vai trò của rừng. Giữ được rừng, thì có thêm thu nhập, sản xuất dưới tán rừng, làm giàu từ rừng. Hiệu quả như thế thì mới chuyển đổi được nhận thức”, ông Thưởng nói.

Thực tế từ Gia Lai đã khẳng định tính đúng đắn của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng: việc giữ rừng muốn thành công phải dựa vào cộng đồng dân cư, mang lại lợi ích cho người dân sống gắn bó với rừng./.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l