Chuyển đến nội dung chính

Nâng cao thương hiệu chứng chỉ rừng Việt Nam trên thị trường quốc tế

 Chiều 28/10, Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức lễ bàn giao Văn phòng chứng chỉ quản lý rừng bền vững về Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam.

Phát biểu tại lễ bàn giao, Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp Nguyễn Quốc Trị nhấn mạnh, việc cấp chứng chỉ rừng bền vững là xu hướng tất yếu trên thế giới. Với Việt Nam, đây là một bước tiến lớn của ngành lâm nghiệp Việt Nam, góp phần bảo vệ, phát triển rừng bền vững và nâng cao giá trị sản xuất lâm nghiệp trên một đơn vị diện tích.
Năng suất rừng trồng của Việt Nam không ngừng tăng lên, nhưng nếu có chứng chỉ thì giá trị mỗi ha rừng trồng có thể tăng lên 30%. Bên cạnh đó, các nước phát triển nhập khẩu phần lớn giá trị đồ gỗ của Việt Nam cũng ngày càng đòi hỏi sản phẩm có chứng chỉ, có nguồn gốc gỗ hợp pháp.
Thời gian qua, Văn phòng Chứng chỉ quản lý rừng bền vững đã xây dựng, hoàn thiện các bộ tiêu chuẩn, tài liệu của Hệ thống chứng chỉ rừng quốc gia và được Tổ chức Chứng chỉ rừng Quốc tế (PEFC) công nhận là thành viên chính thức thứ 50.

Hệ thống chứng chỉ rừng quốc gia (VFCS) đã được Hội đồng chứng chỉ rừng PEFC công nhận là hệ thống đáp ứng yêu cầu thực thi quản lý rừng bền vững. Đến nay, VFCS đã hỗ trợ các chủ rừng, nhóm hộ cấp được trên 55 nghìn ha rừng có chứng chỉ rừng VFCS/PEFC.
Có thể nói, việc quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ rừng thời gian qua đã đạt được những kết quả tích cực, từng bước nâng cao nhận thức, năng lực về thực thi quản lý rừng bền vững cho đội ngũ cán bộ lâm nghiệp các cấp; các chủ rừng, đặc biệt là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư; các doanh nghiệp.
Đến nay, cả nước đã có trên 2 triệu ha rừng của chủ rừng là tổ chức được xây dựng, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt, tổ chức thực hiện theo phương án quản lý rừng bền vững; trên 300 nghìn ha rừng được cấp chứng chỉ FSC và VFCS/PEFC; trên 3 triệu m3 gỗ rừng trồng có chứng chỉ vào chuỗi cung phục vụ chế biến, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ.
Ông Nguyễn Quốc Trị đề nghị, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam sớm xây dựng kế hoạch chi tiết vận hành Hệ thống chứng chỉ rừng quốc gia giai đoạn 2021-2025. Đồng thời, rà soát, cập nhập các bộ tiêu chuẩn, tài liệu liên quan của VFCS để sớm ban hành, công bố theo quy định của pháp luật.
Viện đề xuất kế hoạch thực hiện quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng nhằm đạt mục tiêu Chiến lược phát triển Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, đến năm 2025 có 0,5 triệu ha rừng có chứng chỉ và đến năm 2030 có 1 triệu ha rừng có chứng chỉ.
Đồng thời, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới việc đánh giá cấp chứng chỉ rừng, hạ giá thành cấp chứng chỉ rừng trên đơn vị diện tích rừng; nâng cao vị thế, thương hiệu, uy tín của Hệ thống chứng chỉ rừng Việt Nam, để ngày càng có nhiều thị trường, doanh nghiệp, chủ rừng lựa chọn, tin dùng thương hiệu chứng chỉ rừng VFCS/PEFC.
Là đơn vị tiếp nhận, ông Võ Đại Hải, Giám đốc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam thông tin, ngay từ khi có chủ trương xây dựng VFCS vào năm 2015, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã hợp tác chặt chẽ với Tổng cục Lâm nghiệp và Tổ chức Chứng nhận Quốc tế PEFC để xây dựng: Đề án Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng; tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững; tiêu chuẩn về chuỗi hành trình sản phẩm lâm sản và các hướng dẫn tổ chức thực hiện chứng chỉ rừng.
Ngay sau khi Văn phòng chứng chỉ Quản lý rừng bền vững được thành lập và đi vào hoạt động (năm 2019), Viện tiếp tục hỗ trợ cán bộ và có các đóng góp quan trọng trong vận hành Văn phòng Chứng chỉ rừng quản lý rừng bền vững.
Trong thời gian tới, sẽ có những khó khăn nhất định trong vận hành Văn phòng Chứng chỉ rừng, tuy nhiên với sự hỗ trợ hiệu quả của Tổng cục Lâm nghiệp; các địa phương, các hội, hiệp hội, doanh nghiệp... Văn phòng Chứng chỉ quản lý rừng bền vững sẽ tiếp tục phát huy những kết quả đạt được trong thời gian qua và thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao.
Đặc biệt là thực hiện tốt các mục tiêu quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng đề ra trong Chiến lược phát triển Lâm nghiệp giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 và nâng cao thương hiệu chứng chỉ rừng Việt Nam trên thị trường khu vực và quốc tế, ông Võ Đại Hải cho hay.
Đến nay, có nhiều mô hình liên kết quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ rừng đạt hiệu quả cao được nhân rộng trên phạm vi cả nước, nhằm tổ chức tốt các hoạt động sản xuất, kinh doanh rừng theo chuỗi, nâng cao giá trị gia tăng trong sản xuất lâm nghiệp gắn với quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ rừng.
Cùng với đó, VFCS đã hỗ trợ một số đơn vị thuộc Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam xây dựng mô hình quản lý rừng bền vững cho trên 300 nghìn ha rừng cây cao su./.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l