Chuyển đến nội dung chính

Làng nghề gỗ vẫn nằm ngoài chính sách hỗ trợ COVID-19

  Mặc dù Chính phủ ban hành Nghị quyết 68/NQ-CP và Nghị quyết 105/NQ-CP hỗ trợ các đối tượng bị ảnh hưởng bởi COVID-19 nhưng các hộ sản xuất tại các làng nghề gỗ không tiếp cận được nguồn hỗ trợ này.

Chiều 22/9, hội thảo “Đại dịch COVID-19 và làng nghề gỗ: Tác động và sự cần thiết về một chính sách bao trùm” đã được tổ chức bởi Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST), Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Bình Định (FPA Bình Định), Hội Mỹ nghệ và Chế biến Gỗ Tp. Hồ Chí Minh (HAWA), Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Bình Dương (BIFA), Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Đồng Nai (DOWA) và Tổ chức Forest Trends.
Ông Đỗ Xuân Lập, Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam cho biết, với trên 300 làng nghề gỗ trong cả nước và hàng chục nghìn hộ gia đình, hàng trăm nghìn lao động tham gia sản xuất kinh doanh cho thấy, các làng nghề gỗ hiện nay có vai trò quan trọng về kinh tế-xã hội.

Hiện làng nghề là nguồn cung chủ yếu các sản phẩm gỗ cho thị trường nội địa. Các biện pháp giãn cách nhằm kiểm soát dịch COVID-19 trong thời gian gần đây đã tác động rất lớn tới các hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ làng nghề.
Nhóm nghiên cứu đã khảo sát tại 6 làng nghề gỗ vùng Đồng bằng sông Hồng là Đồng Kỵ (Từ Sơn, Bắc Ninh), Hữu Bằng (Thạch Thất, Hà Nội), Vạn Điểm (Thường Tín, Hà Nội), Liên Hà (Đan Phượng, Hà Nội), La Xuyên (Ý Yên, Nam Định) và Thụy Lân (Yên Mỹ, Hưng Yên).

Đây là các làng nghề có nhiều hộ tham gia sản xuất đồ gỗ. Khảo sát tập trung vào khía cạnh tác động về lao động, nguồn nguyên phụ liệu đầu vào, sản phẩm đầu ra của hộ, tiếp cận vốn và tiếp cận với các cơ chế chính sách hỗ trợ của Nhà nước trong thời gian vừa qua.
Kết quả khảo sát cho thấy, năng lực sản xuất của các hộ đã giảm 62%, còn 38% có thể được phục hồi sau khi các địa phương nới lỏng giãn cách trong một vài tuần trở lại đây. Trong số 6 làng nghề khảo sát công suất cao nhất hiện đạt 50% là làng nghề Thụy Lân và nơi thấp nhất chỉ đạt 30% là Đồng Kỵ và Hữu Bằng.
Hiện có khoảng 46% số hộ tại các làng đã quay trở lại sản xuất, tuy nhiên các hoạt động này chỉ mang tính chất “cầm chừng” với mục đích “làm để giữ thợ” và “lấy công làm lãi” mà không có lợi nhuận.
Lực lượng lao động tại các làng nghề  cũng giảm mạnh, đặc biệt là nhóm lao động tự do từ các nơi khác tới làm thuê cho các hộ tại đây. So với trước giãn cách, lượng lao động làm thuê tại các làng nghề giảm 73%, lao động của hộ giảm 36%. Các hộ sản xuất phải giảm lượng lao động đi thuê nhằm giảm chi phí sản xuất. Ngoài ra, các biện pháp giãn cách làm đứt nguồn cung lao động do công nhân ở địa bàn khác không thể di chuyển tới làng nghề.
Bên cạnh đó, đầu ra sản phẩm của các hộ cũng giảm khoảng 76%; thu nhập của hộ giảm gần 90%; nguồn gỗ nguyên liệu đầu vào cho sản xuất giảm 68% do không tiêu thụ được sản phẩm đầu ra. Ở một số nơi như: Đồng Kỵ, Liên Hà, La Xuyên lượng sản phẩm bán ra giảm từ 80-90%, tương ứng với mức sụt giảm về nguồn thu của hộ.

 

Ngoài ra, chi phí nguyên phụ liệu đầu vào cho sản xuất tăng. Giãn cách cũng làm cước vận chuyển và giá phụ liệu tăng bình quân từ 20-25%, trong khi chi phí gỗ nguyên liệu đầu vào tăng khoảng từ 5-10%.
Từ đầu tháng 7/2021 đến nay, Chính phủ ban hành hai nghị quyết là Nghị quyết 68/NQ-CP về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch COVID-19 và Nghị quyết 105/NQ-CP về hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh trong bối cảnh dịch COVID-19 nhằm hỗ trợ các nhóm đối tượng chịu tác động tiêu cực của đại dịch COVID-19. Tuy nhiên, hầu hết các hộ sản xuất tại các làng nghề khảo sát không tiếp cận được với nguồn hỗ trợ này.
Theo ông Tô Xuân Phúc, Tổ chức Forest Trends, nguyên nhân chính là bởi các hộ không có đăng ký kinh doanh và không đăng ký thuế. Do vậy, các hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ không được các cơ quan quản lý công nhận một cách chính thức. Kết quả là hộ nằm ngoài tiêu chí được hỗ trợ được quy định trong các nghị quyết nêu trên.
Ông Tô Xuân Phúc đề xuất các ngành chức năng nên điều chỉnh lại các tiêu chí hỗ trợ theo hình thức bao trùm hơn. Từ đó, đảm bảo các hộ tại làng nghề có thể tiếp cận được với các nguồn hỗ trợ này và không bị bỏ lại phía sau như mục tiêu mà Chính phủ đề ra.
Theo ông Điền Quang Hiệp, Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Bình Dương, ảnh hưởng dịch COVID-19 là ảnh hưởng chung và các đối tượng đều chịu ảnh hưởng tương đồng nhau. Nhưng, làng nghề là sự tập hợp từ các hộ sản xuất đơn lẻ nên sức chịu đựng kém hơn doanh nghiệp và sẽ phục hồi kém hơn.
Trước thực trạng các hộ tại làng nghề khó tiếp cận được các nguồn hỗ trợ của nhà nước, ông Điền Quang Hiệp cho rằng, khi các hộ khi đăng ký kinh doanh thì chỉ nhìn về mặt phải đóng thuế. Các hộ sản xuất cần nhìn vào vấn đề xã hội và vấn đề này thì sẽ hỗ trợ lại bằng các chính sách.
Nhà nước mong muốn các hộ đăng ký kinh doanh để từ đó tạo môi trường kinh doanh trong sạch, tạo ra các chính sách phù hợp... Do đó, các hộ cần nhận thấy vấn đề này để đăng ký kinh doanh và khẳng định tính chính danh của mình và tham gia vào các hiệp hội, vào chuỗi cung ứng sản xuất.
Để phát triển các làng nghề bền vững, ông Đỗ Xuân Lập cho rằng, cần kết nối các doanh nghiệp xuất khẩu với các làng nghề để các làng nghề không chỉ sản xuất sản phẩm trong nước mà còn xuất khẩu. Tại khu vực miền Nam, nhiều làng nghề đã phối hợp với doanh nghiệp để tham gia vào sản xuất sản phẩm xuất khẩu và đây là cơ hội cho các làng nghề.
Bà Nguyễn Thị Bảy, đại diện làng nghề Hữu Bằng cho biết, gần như làng nghề không sản xuất trong thời gian giãn cách xã hội, hàng cũng không xuất được. Gần đây, làng nghề đã được xuất hàng nhưng chi phí rất cao. Làng nghề mong muốn liên kết với các doanh nghiệp lớn hoặc, có thể làm một phần, một công đoạn sản phẩm từ đó thúc đẩy phát triển nghề gỗ bền vững./.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l