Chuyển đến nội dung chính

Làng nghề gỗ lao đao trong dịch và cơ hội nắm bắt thị trường xuất khẩu

 

SKĐS - Dịch COVID-19 khiến các làng nghề gỗ bị giảm 76% sản phẩm đầu ra, giảm 90% thu nhập, hàng nghìn lao động mất việc.

Làng nghề gỗ "khóc ròng" vì dịch COVID-19

Theo thống kê, cả nước có hơn 300 làng nghề gỗ với hàng chục nghìn hộ gia đình và hàng trăm nghìn lao động tham gia sản xuất kinh doanh. Hiện, làng nghề là nguồn cung chủ yếu các sản phẩm gỗ cho thị trường nội địa. Các biện pháp giãn cách nhằm kiểm soát dịch COVID-19 trong thời gian gần đây có tác động rất lớn tới các hoạt động sản xuất, kinh doanh của các làng nghề.

Làng nghề gỗ lao đao trong dịch và cơ hội nắm bắt thị trường xuất khẩu - Ảnh 1.

Làng nghề gỗ đang gặp nhiều khó do ảnh hưởng từ dịch COVID-19. Ảnh minh họa

Nghiên cứu của Tổ chức Forest Trends cho thấy, dịch COVID-19 khiến các làng nghề gỗ bị giảm 76% sản phẩm đầu ra, giảm 90% thu nhập, hàng nghìn lao động mất việc.

ADVERTISING

Khảo sát của nhóm nghiên cứu tại 6 làng nghề gỗ vùng Đồng bằng sông Hồng (Đồng Kỵ, Hữu Bằng, La Xuyên, Liên Hà, Thụy Lân và Vạn Điểm) cho thấy, tác động của dịch COVID-19 tới các hộ sản xuất rất lớn. Cụ thể, năng lực sản xuất của các hộ đã giảm 62%. Trong số 6 làng nghề khảo sát, công suất nơi cao nhất đạt 50% (làng gỗ Thụy Lân), nơi thấp nhất chỉ đạt 30% (làng gỗ Đồng Kỵ, làng gỗ Hữu Bằng).

Khoảng 46% số hộ tại các làng đã quay trở lại sản xuất, tuy nhiên các hoạt động này chỉ mang tính chất cầm chừng với mục đích "làm để giữ thợ" và "lấy công làm lãi" mà không có lợi nhuận. Làng có số hộ quay lại sản xuất cao nhất đạt 80% (làng gỗ La Xuyên) và làng thấp nhất chỉ đạt 30% (làng gỗ Đồng Kỵ).

Đầu ra sản phẩm của các hộ giảm khoảng 76%, thu nhập giảm gần 90%, nguồn gỗ nguyên liệu đầu vào cho sản xuất giảm 68% do không tiêu thụ được sản phẩm đầu ra. Ở một số nơi như Đồng Kỵ, Liên Hà, La Xuyên lượng sản phẩm bán ra giảm 80-90%, tương ứng với mức sụt giảm về nguồn thu của hộ.

Trong báo cáo của nhóm nghiên cứu, hộ làng nghề hiện đang thiếu tính chính danh. Theo quy định hiện hành, hộ kinh doanh cá thể là các cá nhân, hoặc hộ gia đình được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh để tiến hành các hoạt động kinh doanh. Hộ kinh doanh cá thể không có con dấu và chịu trách nhiệm với các hoạt động kinh doanh của mình.

Thực tế, hoạt động sản xuất kinh doanh của các hộ tại các làng nghề có quy mô nhỏ lẻ, tự phát, tận dụng lao động của gia đình... Hầu hết các hộ không đăng ký thực hiện kinh doanh với cơ quan quản lý, không đăng ký thuế, không đóng thuế thu nhập và thuế giá trị gia tăng. Các giao dịch cũng hầu như không có chứng từ, hoặc hồ sơ giấy tờ để minh chứng cho tính hợp pháp của sản phẩm. Các hộ sản xuất chỉ đóng lệ phí môn bài, với mức đóng thấp nhất nhằm tiết kiệm chi phí, thậm chí, một số hộ không đóng.

Tìm lại cơ hội nhờ thị trường xuất khẩu

Làng nghề gỗ lao đao trong dịch và cơ hội nắm bắt thị trường xuất khẩu - Ảnh 2.

Doanh nghiệp xuất khẩu gỗ kỳ vọng xuất khẩu ổn định từ tháng 10 khi dịch bệnh được kiểm soát sẽ bù đắp được sản lượng xuất khẩu cả năm 2021. Ảnh minh hoạ

Trước mắt, cần có chính sách hỗ trợ cho nhóm làng nghề gỗ truyền thống khi phần lớn nhóm đối tượng này hiện chưa tiếp cận được các chính sách hỗ trợ dịch bệnh COVID-19 vì không đủ tiêu chí. Đề xuất này được đưa ra tại Hội thảo trực tuyến "Đại dịch COVID-19 và làng nghề gỗ" vừa được Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam tổ chức.

Dịch bệnh bùng phát phức tạp khiến thị trường tiêu thụ gỗ trong nước chững lại, thị trường lân cận như Trung Quốc cũng không có thương lái sang đặt hàng.

Điều này khiến cho hoạt động của các làng nghề truyền thống ngành gỗ gặp nhiều khó khăn như: Hàng hóa tồn nhiều, lượng vốn vay lớn, thiếu lao động trở lại làm việc, chi phí nguyên phụ liệu đầu vào tăng cao… Một số làng nghề hiện nay mới chỉ có 10% hộ gia đình quay trở lại sản xuất.

Mới đây, Chính phủ có ban hành một số chính sách hỗ trợ các nhóm đối tượng bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh COVID-19, điển hình là Nghị quyết 68 và Nghị quyết 105.

Đối với Nghị quyết 68 hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động, phần lớn các hộ sản xuất làng nghề khó đáp ứng được tiêu chí, do trước nay họ đi thuê lao động thường sử dụng hợp đồng miệng, không có hợp đồng thuê lao động rõ ràng.

Còn Nghị quyết 105 hỗ trợ cho những hộ có đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế. Còn các hộ làng nghề được ngành gỗ khảo sát cho thấy hoạt động tự phát, nhỏ lẻ và không có đăng ký hoạt động, nên cũng không nằm trong nhóm đối tượng được hỗ trợ.

Theo các chuyên gia, cần có đánh giá toàn bộ tổng thể về hệ thống các làng nghề, để hỗ trợ, quản lý hiệu quả. Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam cho rằng, các hộ sản xuất tại làng nghề cần sớm hoàn thiện đăng ký kinh doanh và tham gia mở rộng hơn vào các hiệp hội và các chuỗi cung ứng sản xuất.

Bên cạnh sự hỗ trợ từ chính sách, các làng nghề gỗ cũng tự tìm đầu ra cho sản phẩm. 

Bà Nguyễn Thị Bảy, Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề gỗ Hữu Bằng cho biết, làng nghề này đang rất khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh, thị trường trong nước hầu như không có đơn hàng sản xuất. Bà Nguyễn Thị Bảy mong muốn kết nối với các doanh nghiệp xuất khẩu để có thể gia công một phần sản phẩm theo hướng dẫn cụ thể của doanh nghiệp.

Nhiều doanh nghiệp, hiệp hội lớn trong ngành gỗ cho rằng các làng nghề là một phần rất quan trọng của ngành gỗ. Đây là lực lượng để góp phần tạo nên văn hoá gỗ Việt. Trong bối cảnh đại dịch, việc phối hợp giữa các doanh nghiệp gỗ xuất khẩu với các làng nghề là hết sức cần thiết.

Hiện nhiều doanh nghiệp xuất khẩu lớn khá khó khăn trong tập hợp lao động để hoàn thành các đơn hàng xuất khẩu vì tình hình dịch bệnh. Việc phối hợp với các làng nghề được xem là một hướng đi khả thi.

Việc phối hợp này không chỉ có tính chất thời vụ. Đây được đánh giá là cơ hội để các làng nghề gỗ tiếp cận với các quy mô kinh doanh, sản xuất gỗ lớn và có hệ thống chuyên nghiệp. Đó cũng là một bước đệm để các làng nghề có thể xây dựng được tính "chính danh" bằng hình thức hoạt động của các doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp…

Ông Đỗ Xuân Lập, Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và lâm sản Việt Nam cho biết, Hiệp hội sẽ ghi nhận và tiếp thu các ý kiến để xây dựng các chính sách chung gắn kết các lực lượng sản xuất gỗ. Người tiêu dùng trong nước cần nâng cao nhận thức về dùng sản phẩm có xuất xứ rõ ràng. Người kinh doanh xuất khẩu gỗ và lực lượng sản xuất dồi dào từ các làng nghề gỗ cũng cần gắn kết chặt chẽ, từ đó tạo sự kết nối giữa gỗ nội địa và xuất khẩu, tăng nội lực sản xuất của ngành gỗ Việt Nam.

* Bài tuyên truyền thực hiện Nghị quyết 84/NQ-CP ngày 29/5/2020 của Chính phủ.


K.N

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l