Chuyển đến nội dung chính

Kon Tum: Người dân tích cực tham gia quản lý, bảo vệ rừng

 (TN&MT) - Từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) và những lợi ích của nó, bà con đồng bào dân tộc thiểu số ở các thôn, làng của tỉnh Kon Tum đã chung sức, đồng lòng cùng tham gia giữ rừng để vừa phát triển sinh kế, vừa bảo vệ và phát triển rừng bền vững.

Được Nhà nước giao đất, giao rừng từ những ngày đầu tiên chính sách chi trả DVMTR được triển khai thực hiện tại tỉnh Kon Tum, đến nay, 56 hộ dân người dân tộc thiểu số tại xã Đăk Ruồng (huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum) đã xem rừng là nhà, là nơi che chắn, bảo vệ dân làng và là nơi mang lại nguồn thu nhập ổn định, giúp bà con phát triển sinh kế, cải thiện đời sống.

Anh A HNgang (làng Kon Ktuh, xã Đăk Ruồng) cho biết, gia đình anh được giao bảo vệ 30ha rừng. Định kỳ hàng tuần, hai vợ chồng anh sẽ cùng nhau đi tuần tra rừng. “Ban đầu còn bỡ ngỡ, lo lắng không biết có bảo vệ được rừng không, nhưng bây giờ quen rồi. Bà con ở đây cũng không ai chặt phá rừng nữa, việc tuần tra rừng cũng đơn giản hơn”, anh HNgang nói.

Người dân xã Ya Tăng tham gia tìm hiểu về chính sách chi trả DVMTR

Đối với anh HNgang, tuần tra rừng không chỉ để bảo vệ rừng, mà từ kết quả đó, gia đình anh được nhận tiền chi trả DVMTR. “Mỗi năm, tôi nhận được trên 20 triệu đồng từ tiền chi trả DVMTR. Qua các buổi tuyên truyền và hướng dẫn của cán bộ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Kon Tum, tôi đã dùng nguồn tiền này đầu tư vào sản xuất nông nghiệp. Nhờ đó, kinh tế gia đình ngày càng ổn định hơn, tôi mua sắm được nhiều đồ dùng và vừa xây được nhà mới vào năm ngoái”, anh HNgang bộc bạch.

Ngoài các hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất, giao rừng, xã Đăk Ruồng còn tiến hành khoán rừng cho 4 cộng đồng người dân tộc thiểu số trên địa bàn quản lý, bảo vệ với tổng diện tích 400ha. Nhờ vậy, năm 2021, diện tích rừng trên địa bàn xã Đăk Ruồng đã tăng thêm 100 ha so với năm 2019.

Ông Đinh Ngọc Hải - Chủ tịch UBND xã Đăk Ruồng cho hay: “Những năm gần đây, vấn đề xâm hại đến diện tích rừng được quản lý chặt chẽ. Ý thức của người dân được nâng cao nhờ chính sách chi trả DVMTR. Lợi ích của rừng mang lại đã khiến người dân xem rừng như tài sản của mình để bảo vệ. Trung bình mỗi hộ gia đình tham gia bảo vệ rừng nhận được trên dưới 20 triệu đồng/năm. Từ nguồn tiền DVMTR đã giúp nhiều hộ dân trên địa bàn xã thoát nghèo và vươn lên phát triển kinh tế, cuộc sống ngày càng ổn định hơn”.

Tương tự, xã Ya Tăng (huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum) có 98% người dân là đồng bào dân tộc thiểu số. Vì thế, đời sống cũng như bộ mặt nông thôn xã Ya Tăng còn nhiều khó khăn. Tham gia làm nghề rừng và hưởng chính sách chi trả DVMTR là một nguồn lực ổn định, góp phần không nhỏ giúp người dân nơi đây có cuộc sống khởi sắc hơn.

Nhờ tham gia quản lý, bảo vệ rừng, gia đình anh Dép ở làng Trắp (xã Ya Tăng) từ một hộ cận nghèo nhiều năm, đến nay đã thoát nghèo và có kinh tế khá hơn nhiều so với các hộ dân khác trong xã. Anh Dép chia sẻ: “Gia đình tôi được Nhà nước giao đất giao rừng 29ha đất lâm nghiệp và rừng, trong đó có 9,6ha rừng được hưởng chính sách chi trả DVMTR. Tuy vậy, nguồn tiền DVMTR nhận về đã giúp tôi có nguồn tiền ổn định để đầu tư nuôi bò, nuôi dê và từ đó nâng cao thu nhập”.

Theo bà Y Phin - Chủ tịch UBND xã Ya Tăng, năm 2020, diện tích rừng do UBND xã Ya Tăng quản lý đã tăng thêm gần 100 ha so với năm 2019. Đây đều là diện tích rừng được tái sinh nhờ công tác quản lý, bảo vệ của người dân trên địa bàn xã. Dự kiến, trong những năm tiếp theo, một số diện tích rừng đang khoanh nuôi, phát triển tốt cũng sẽ được quy hoạch thành rừng và được chi trả tiền DVMTR.

“Tham gia bảo vệ rừng và hưởng chính sách chi trả DVMTR giúp bà con nâng cao nhận thức và có trách nhiệm trong bảo vệ rừng. Nó còn có ý nghĩa lớn đối với cuộc sống của bà con. Từ chính sách này, mỗi hộ gia đình tham gia bảo vệ rừng nhận được 8 - 16 triệu đồng/năm. Khi cuộc sống ổn định, bà con sẽ quan tâm chăm sóc và không xâm hại đến rừng nữa. Có như vậy, rừng sẽ ngày càng được bảo vệ tốt và phát triển bền vững hơn”, bà Y Phin khẳng định.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l