Chuyển đến nội dung chính

Huyện Điện Biên tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng

 (TN&MT) - Hiện nay, huyện Điện Biên có 51,98% tỷ lệ che phủ rừng. Trong đó, diện tích đất có rừng là 72.651,25ha và chủ yếu là rừng tự nhiên chiếm tỷ lệ hơn 90%. Thời gian qua, lực lượng chức năng, chính quyền các xã trên địa bàn huyện đã có nhiều cố gắng trong công tác quản lý, bảo vệ rừng và phòng, chống cháy rừng.

Để làm tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng, thời gian qua huyện Điện Biên đã chỉ đạo kiểm lâm địa bàn tăng cường bám cơ sở, nắm bắt thông tin, thường xuyên kiểm tra và tuyên truyền về Luật Lâm nghiệp, các quy định liên quan đến lĩnh vực lâm nghiệp tại địa bàn được phân công phụ trách. Bên cạnh đó, cán bộ kiểm lâm còn phối hợp với các cơ quan, đoàn thể huyện, chính quyền xã tích cực tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ rừng đến từng thôn, bản.

Cùng với đó, huyện còn xác định công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục. Chính vì vậy, UBND huyện Ðiện Biên đã chỉ đạo các cơ quan chức năng, chính quyền các xã tăng cường nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng, nhất là đẩy mạnh công tác tuần tra, kiểm soát lâm sản, chú trọng địa bàn trọng điểm, vùng giáp ranh; kiểm tra, ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi lấn chiếm rừng, đất lâm nghiệp trái pháp luật; tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức cho người dân và các chủ rừng.

Tổ quản lý bảo vệ rừng Mường Pồn 1 phối hợp cùng cán bộ kiểm lâm tuần tra bảo vệ rừng

Để đảm bảo chất lượng trong công tác bảo vệ rừng và sự nhận thức của người dân được nâng cao. Hạt Kiểm lâm huyện Điện Biên phối hợp với chính quyền xã Mường Pồn tổ chức ký cam kết bảo vệ rừng tới từng chủ rừng; xây dựng quy ước bảo vệ rừng; tuyên truyền sâu rộng về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, nhằm giúp cho người dân cùng nhau bảo vệ rừng bởi vì Bảo vệ rừng chính là bảo vệ cuộc sống của chúng ta.

Xã Mường Pồn huyện Điện Biên, trong những năm gần đây, ý thức, trách nhiệm quản lý, bảo vệ rừng của người dân được nâng cao, rừng được bảo vệ an toàn, tăng độ che phủ. Người dân cũng dần có thu nhập ổn định nhờ được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng và khai thác lâm sản phụ trong rừng theo quy định. Hiện nay, diện tích tự nhiên toàn xã Mường Pồn là: 12.518,77 ha. Trong đó, diện tích đất có rừng được chi trả 6318,47 ha rừng, Xã có 10 cộng đồng thôn bản và 18 hộ gia đình tham gia công tác quản lý bảo vệ rừng

Bà con Mường Pồn, huyện Điện Biên chăm sóc, bảo vệ rừng

Ông Vì Văn Khiên, Trưởng bản Mường Pồn 1, xã Mường Pồn, huyện Ðiện Biên chia sẻ: Bản Mường Pồn 1 được giao quản lý và chăm sóc 406,51 ha rừng, mỗi năm bản Mường Pồn 1 được chi trả từ 450 đến 500 triệu đồng. Nhờ công tác tuyên truyền chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng từ cán bộ kiểm lâm, cán bộ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh cho bà con trong bản, bà con đã nhận thức được phải bảo vệ rừng tốt, thì mức chi trả tiền ngày càng cao sẽ giúp người dân cải thiện được cuộc sống. Những năm qua, nạn phá rừng làm nương đã chấm dứt hẳn, bản đã xây dựng được quy ước bảo vệ rừng, thành lập tổ tuần tra bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng kịp thời. Nhờ đó các khu rừng đủ điều kiện cung ứng dịch vụ môi trường rừng của bản đã được bảo vệ và ngày càng xanh tốt.

Bên cạnh đó, việc khoanh nuôi, bảo vệ rừng đã thành phong trào lan tỏa rộng khắp các thôn bản, nhiều tổ chức cá nhân ở huyện Điện Biên nhận khoán khoanh nuôi bảo vệ rừng. Các vụ vi phạm pháp luật về việc khai thác gỗ trái phép đã giảm rõ rệt, tính chất các vụ việc không còn phức tạp. Những địa bàn từng một thời nóng về tình trạng khai thác, buôn bán và vận chuyển lâm sản trái quy định cũng đã dần ổn định, kiểm soát được tình hình. Tất cả là nhờ ý thức của người dân, vai trò của chính quyền được nâng cao. Đặc biệt là chính sách chi trả môi trường rừng đã lan toả tình yêu rừng đến với người dân

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l