Chuyển đến nội dung chính

Bình Thuận: Giảm nguy cơ hoang mạc hóa từ việc giao khoán rừng cho đồng bào DTTS

 

(TN&MT) - Những năm qua, tỉnh Bình Thuận đã triển khai nhiều chính sách giao khoán rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) nhằm nâng cao thu nhập cho người dân và góp phần bảo vệ, phát triển rừng, giảm nguy cơ hoang mạc hóa trong bối cảnh tình trạng biến đổi khí hậu (BĐKH) ngày càng diễn biến phức tạp.

Giảm nguy cơ hoang mạc hóa

Tỉnh Bình Thuận nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của thời tiết khắc nghiệt, khí hậu khô hạn nhất cả nước, nhiệt độ trung bình năm cao trên 27 độ C, lượng mưa trung bình từ 1.000 đến 1.600mm/năm, chỉ bằng bằng 1/2 lượng mưa trung bình ở Nam Bộ. Vì vậy, tình trạng sa mạc hóa tại Bình Thuận ngày càng diễn biến phức tạp và trầm trọng hơn ở các huyện ven biển. Đồng thời, tốc độ thoái hóa đất cũng diễn ra ngày càng nhanh, đặc biệt là tại các vùng trọng điểm khô hạn của huyện Bắc Bình.

Tình trạng khô hạn, thiếu nước liên tục xảy đã tác động lớn đến đời sống, sinh hoạt của người dân vùng đồng bào DTTS và miền núi.

Theo thống kê, Bình Thuận có gần 90 nghìn ha đất bị hoang mạc hóa, chiếm 11% tổng diện tích đất tự nhiên trên địa bàn; đồng thời, diện tích đất ven biển dài 50km. Cụ thể, tại vùng đất khu Lê, huyện Bắc Bình, ngày trước đất tốt, hoa màu phong phú, đa dạng, động vật còn rừng trú ẩn nhưng sau mấy chục năm đã có sự thay đổi khá rõ. Hiện, không còn cây rừng, nguồn nước cạn kiệt nên các loài động thực vật không thể sinh sống được. Năm 2018, tình trạng nắng hạn kéo dài đã khiến hơn 4.400 ha diện tích hoa màu của người dân tại xã Bình Tân, huyện Bắc Bình chịu thiệt hại nặng nề… khiến hoạt động sản xuất và đời sống của nông dân tại nhiều địa phương gặp khó khăn.

Bên cạnh đó, tình trạng lấn chiếm đất rừng, chặt phá rừng vẫn diễn ra phức tạp khiến cho diện tích rừng bị thu hẹp và tăng nguy cơ suy thoái đất, hoang mạc hóa. Tình trạng này diễn ra gay gắt ở một số huyện giáp ranh với các tỉnh Lâm Đồng, Ninh Thuận và địa bàn nội địa huyện Tánh Linh (Khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông, Ban Quản lý Rừng phòng hộ La Ngà)...

Thời gian qua, để tăng diện tích che phủ rừng, bảo tồn và nâng cao trữ lượng các bon rừng, giảm nguy cơ suy thoái đất trong bối cảnh tình trạng BĐKH ngày càng diễn ra khốc liệt, tỉnh Bình Thuận đã và đang thực hiện nghiêm các chủ trương chính sách của Đảng, quy định pháp luật của Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng, về quản lý sử dụng đất lâm nghiệp.

Trong đó, việc giao đất trồng rừng và giao khoán việc chăm sóc, bảo vệ rừng cho người DTTS được tỉnh Bình Thuận đặc biệt chú trọng. Từ năm 2011 đến nay, toàn tỉnh đã thực hiện giao khoán quản lý, bảo vệ rừng cho 2.379 hộ đồng bào DTTS, với diện tích là 86.179,42ha, bình quân 36,23 ha rừng/hộ. Mức kinh phí giao khoán hiện nay là từ 200.000 - 300.000 đồng/ha/năm, bình quân mỗi hộ có thêm thu nhập từ 7 -10 triệu đồng/năm.

Riêng đối với các hộ dân tại các xã thuộc khu vực II, khu vực III thuộc đối tượng có trong Danh mục các xã thuộc 3 khu vực DTTS và miền núi tỉnh Bình Thuận do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 582/QĐ-TTg ngày 28/4/2017, sẽ được chi trả 400.000 đồng/ha/năm khi tham gia nhận khoán quản lý, bảo vệ rừng. Tổng kinh phí thực hiện chi trả tiền công quản lý, bảo vệ rừng cho hộ đồng bào DTTS từ năm 2011 đến năm 2020 là hơn 20,233 tỷ đồng.

Tính đến nay, tỉnh Bình Thuận có tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp là 340.500 ha, trong đó, rừng tự nhiên 288.400 ha; rừng trồng 48.000 ha và rừng trồng chưa thành rừng 4.100 ha.

Nhờ nguồn lợi từ rừng, nhiều hộ dân đồng bào DTTS ở Bình Thuận đã duy trì được sinh kế bền vững.

Duy trì sinh kế bền vững từ rừng

Việc thực hiện chính sách giao khoán, quản lý, bảo vệ rừng cho các hộ đồng bào DTTS không những góp phần giảm thiểu tình trạng phá rừng và khai thác lâm sản trái phép mà còn góp phần bảo vệ môi trường, bảo vệ được nguồn nước tưới tiêu hoa màu cho người dân trong các đợt nắng nóng kéo dài. Bên cạnh đó, việc thực hiện chính sách giao khoán rừng còn đem lại lợi ích kinh tế cao cho các hộ gia đình, giảm nghèo bền vững vùng đồng bào DTTS trong tỉnh. Nếu như 5 năm trước, hộ nghèo vùng đồng bào DTTS toàn tỉnh là 4.250 hộ (chiếm gần 20% tổng số hộ đồng bào DTTS), thì đến nay con số này chỉ còn 1.705 hộ (chiếm 6,96% tổng số hộ đồng bào DTTS).

Ông Nguyễn Minh Tân, Trưởng ban Dân tộc tỉnh Bình Thuận cho biết: Thời gian qua, Bình Thuận đã triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả Chương trình Mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững; các chính sách trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS và miền núi; đặc biệt là chính sách giao khoán quản lý, bảo vệ rừng cho đồng bào DTTS trên địa bàn tỉnh. Đến nay, tất cả các cánh rừng giao khoán cho người dân đồng bào DTTS quản lý, bảo vệ đều đang phát triển tốt; ý thức bảo vệ rừng của người dân vùng DTTS đã được nâng cao một cách đáng kể...

Ngoài ra, các hộ nhận khoán bảo vệ rừng còn tích cực tham gia tuyên truyền, vận động con em, người thân trong gia đình, dòng tộc tại các thôn, bản nâng cao nhận thức về lợi ích của việc nhận khoán bảo vệ rừng sẽ góp phần bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất; hạn chế, giảm thiểu thiên tai do BĐKH như lũ ống, lũ quét, sạt lở đất đá...

Cũng theo ông Nguyễn Minh Tân, thời gian tới, thực hiện sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Bình Thuận, Ban Dân tộc tỉnh sẽ tiếp tục phối hợp với các đơn vị chức năng thực hiện các chính sách hỗ trợ cho đồng bào DTTS, đặc biệt là hỗ trợ về đất đai. Đồng thời, tiếp tục đầu tư để phát triển kết cấu hạ tầng tại vùng đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa nhằm nâng cao hơn nữa đời sống vật chất và tinh thần, đảm bảo đồng bào DTTS có cuộc sống ổn định, thoát khỏi nghèo khó vươn lên làm giàu.

Bên cạnh đó, tiếp tục huy động các nguồn lực và lồng ghép các chương trình, dự án để nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ rừng; nhân rộng mô hình Quản lý, sử dụng kinh phí giao khoán bảo vệ rừng để thực hiện mô hình sinh kế bền vững, thích ứng với BĐKH cho đồng bào DTTS.

Ngoài ra, Ban Dân tộc tỉnh Bình Thuận sẽ tập trung đẩy mạnh tuyên truyền Luật Bảo vệ và Phát triển rừng đến các hộ dân đồng bào DTTS; thường xuyên phối hợp giữa các cấp, ngành, chính quyền địa phương, tuần tra, truy quét, ngăn chặn các hành vi vi phạm gây ra tình trạng mất rừng, suy thoái rừng.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l