Chuyển đến nội dung chính

Bằng cách này, loại gỗ bình dân trồng khắp nơi ở Việt Nam cho giá trị 3.000 USD/m3

 

Qua tinh chế, làm đồ nội thất cao cấp, từ một loại gỗ bình dân chuyên làm dăm, gỗ keo có thể được nâng tầm giá trị lên tới 3.000 USD/m3.
 Bình luận 0

Tăng giá trị cho gỗ keo từ bình dân thành hàng cao cấp 

Hàng năm ngành gỗ Việt Nam sử dụng một lượng nguyên liệu gỗ rất lớn, chủ yếu từ nguồn gỗ rừng trồng nội địa, một ít gỗ nhập khẩu, trong lượng nguyên liệu gỗ từ rừng trồng nội địa thì gỗ keo là nhiều nhất.

Thống kê từ Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NNPTNT) cho thấy, diện tích keo năm 2020 đạt 2,35 triệu ha, tương đương trên 53% trong tổng diện tích rừng trồng của Việt Nam (diện tích rừng trồng năm 2020 đạt khoảng 4,4 triệu ha). 

ADVERTISING

Đặc biệt, trồng keo theo chứng chỉ rừng bền vững (FSC), sản lượng bình quân đạt 120m3/ha, các diện tích có chu kỳ dài hơn (6-7 năm) năng suất có thể đạt 150-160m3/ha.

Tuyên Quang là một trong những tỉnh đi tiên phong trong việc trồng rừng gỗ lớn có chứng chỉ FSC. Theo báo cáo của Sở NNPTNT Tuyên Quang, toàn tỉnh hiện có hơn 35.300ha rừng được cấp chứng chỉ FSC, đứng thứ 2 toàn quốc.

Gỗ keo qua tinh chế đạt giá trị 3.000 USD/m3 - Ảnh 1.

Người dân thôn Trung Sơn, xã Tân Mỹ (Chiêm Hóa, Tuyên Quang) chăm sóc rừng keo 5 năm tuổi trồng theo tiêu chuẩn FSC. Ảnh: Báo Tuyên Quang.

Diện tích rừng keo năm 2020 đạt 2,35 triệu ha, tương đương trên 53% trong tổng diện tích rừng trồng của Việt Nam (diện tích rừng trồng năm 2020 đạt khoảng 4,4 triệu ha). Trong đó, diện tích rừng keo có chứng chỉ FCS chiếm 15%.

Theo nhiều nông dân tham gia trồng rừng gỗ lớn có chứng chỉ FSC ở Tuyên Quang, những cánh rừng FSC không có rác thải, bao bì thuốc bảo vệ thực vật không vứt bừa bãi, người dân có ý thức trong việc bảo vệ môi trường.

Đáng chú ý, trồng rừng gỗ lớn có chứng chỉ FSC, người dân Tuyên Quang không lo khâu tiêu thụ, thay vì chu kỳ khai thác ngắn, độ tuổi rừng khai thác kéo dài 7 - 10 năm nên giá trị thu nhập từ rừng tăng đáng kể, gấp 2 lần so với rừng cây gỗ nhỏ.

Tuy nhiên, theo khảo sát của Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, hiện các diện tích keo có chứng chỉ FSC mới chỉ đạt dưới 15% trong tổng diện keo hiện có. Mở rộng diện tích có chứng chỉ có tiềm năng đem lại giá trị cao hơn cho nguồn gỗ này.

Diện tích keo liên tục mở rộng do loài gỗ này được ưa chuộng trong các sản phẩm chế biến xuất khẩu.

Gỗ keo hiện được sử dụng làm dăm gỗ để sản xuất giấy, bột giấy, làm viên nén, gỗ dán, đồ mộc xây dựng và đặc biệt là để sản xuất các mặt hàng đồ gỗ xuất khẩu. 

Trong đó, các mô hình sản xuất đồ gỗ nội thất cao cấp được làm từ gỗ keo của Công ty Rochedale Việt Nam, Công ty Alexander Theodore với giá trị của mỗi mét khối gỗ keo tinh chế đạt hơn 3.000 USD.

Bằng cách này, loại gỗ bình dân trồng khắp nơi ở Việt Nam cho giá trị 3.000 USD/m3 - Ảnh 3.

Gỗ keo hiện được sử dụng làm dăm gỗ để sản xuất giấy, bột giấy, làm viên nén, gỗ dán, đồ mộc xây dựng và đặc biệt là để sản xuất các mặt hàng đồ gỗ xuất khẩu. Với đồ nội thất cao cấp, gỗ keo có thể cho giá trị 3.000 USD/m3. Ảnh: Cao Cẩm.

Cải thiện giống để nâng cao năng suất gỗ keo

Việt Nam hiện đã trở thành một trong những quốc gia chế biến, xuất khẩu đồ gỗ và sản phẩm gỗ hàng đầu thế giới.

Trong số các tỉnh thành có rừng trồng, 7 tỉnh có diện tích rừng trồng lớn nhất là Lạng Sơn, Thanh Hóa, Quảng Ninh, Quảng Ngãi, Yên Bái, Quảng Nam và Nghệ An. Diện tích rừng trồng của cả 7 tỉnh này chiếm khoảng 37% trong tổng diện tích rừng trồng cả nước.

Dự báo trong thời gian tới lượng cung gỗ keo rừng trồng tiếp tục tăng, chủ yếu là bởi cầu thị trường về loài gỗ này vẫn tiếp tục mở rộng. 

Bên cạnh đó, các cơ chế chính sách hiện nay của Chính phủ khuyến khích mở rộng các diện tích rừng trồng, tạo nguồn cung gỗ nguyên liệu có chất lượng cao, là gỗ lớn cho ngành chế biến.

Theo ông Đỗ Xuân Lập - Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, gỗ keo là nguồn gỗ nguyên liệu rủi ro thấp với lượng cung chủ yếu là từ các hộ gia đình được Nhà nước giao đất để phát triển nguồn gỗ rừng trồng.

 Keo cũng là loài gỗ rừng trồng có mức tăng trưởng cao nhất so với các loài gỗ rừng trồng khác hiện có ở Việt Nam. Sản lượng khai thác loài gỗ này hàng năm rất lớn, đạt gần 50 triệu m3 gỗ tròn mỗi năm.

"Phát triển gỗ keo rừng trồng không chỉ có ý nghĩa đối với việc phát triển của ngành gỗ mà còn trực tiếp góp phần vào tạo nguồn sinh kế hộ gia đình, bao gồm nhiều hộ gia đình miền núi" - ông Lập nói.

Để tăng năng suất gỗ keo rừng trồng, ông Lập khuyến cáo các hộ trồng keo cần tiếp cận với các kiến thức mới về mặt khoa học kỹ thuật; kết hợp với các doanh nghiệp cải tạo giống, cải thiện kỹ thuật canh tác và chăm sóc vườn cây.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l