Chuyển đến nội dung chính

Ngành chăn nuôi gặp thách thức kép

 Báo cáo của Tổng cục Thống kê cho thấy, mặc dù thời tiết tiếp tục ủng hộ sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản song lĩnh vực chăn nuôi đang đối diện với nhiều thách thức.

Cụ thể là, về nông nghiệp, tính đến ngày 15/7/2021, cả nước gieo cấy được 1.099,6 nghìn ha lúa mùa, bằng 99,4% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc gieo cấy 909,2 nghìn ha, bằng 99,7%; các địa phương phía Nam gieo cấy 190,4 nghìn ha, bằng 97,8%. Hiện nay, các địa phương đang khẩn trương hoàn thành công tác gieo cấy lúa mùa, các trà lúa đã cấy phát triển tương đối tốt, diện tích trà lúa sớm đang trong giai đoạn hồi xanh, đẻ nhánh.

Ngành chăn nuôi gặp thách thức kép
Giá thức ăn và dịch bệnh ảnh hưởng lớn tới hoạt động chăn nuôi

Đến giữa tháng Bảy, các địa phương trên cả nước đã gieo trồng được 738 nghìn ha ngô, bằng 101,8% cùng kỳ năm trước; 74,8 nghìn ha khoai lang, bằng 92,5%; 147,5 nghìn ha lạc, bằng 95,5%; 23,5 nghìn ha đậu tương, bằng 89,7%; 863,7 nghìn ha rau, đậu, bằng 101,3%.

Chăn nuôi trâu, bò trong tháng Bảy gặp khó khăn do dịch viêm da nổi cục vẫn đang diễn biến phức tạp tại nhiều địa phương. Ước tính tổng số trâu của cả nước tính đến thời điểm cuối tháng 7/2021 giảm 3,3% so với cùng thời điểm năm 2020; tổng số bò tăng 2,3%. Cùng với đó, chăn nuôi lợn đối mặt với những khó khăn khi giá thức ăn chăn nuôi tăng cao trong khi giá bán lợn hơi giảm, hiện giá thịt lợn hơi giảm về mức dưới 60.000 đồng/kg. Ước tính tổng số lợn của cả nước tính đến thời điểm cuối tháng Bảy tăng 6,1% so với cùng thời điểm năm trước. Chăn nuôi gia cầm phát triển ổn định trong tháng Bảy, tuy nhiên, tại một số địa phương đã phát hiện chủng vi-rút cúm gia cầm mới A/H5N8 (lần đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam).

Tính đến ngày 20/7/2021, cả nước không còn dịch tai xanh ở lợn; dịch cúm gia cầm còn ở Hà Nội, Quảng Ninh, Thái Bình, Lạng Sơn, Nghệ An, Hà Tĩnh; dịch lở mồm long móng còn ở Thái Nguyên, Nghệ An, Hà Tĩnh; dịch tả lợn châu Phi còn ở 33 địa phương và dịch viêm da nổi cục còn ở 34 địa phương chưa qua 21 ngày.

Về lâm nghiệp, diện tích rừng trồng mới tập trung tháng 7/2021 ước tính đạt 13,1 nghìn ha, tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt gần 5,4 triệu cây, giảm 0,6%; sản lượng gỗ khai thác đạt 1.550 nghìn m3, tăng 4,2%; sản lượng củi khai thác đạt gần 1,5 triệu ste, giảm 1,3%. Nhu cầu nguyên liệu tại các cơ sở chuyên chế biến lâm sản xuất khẩu không cao do diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 gây ảnh hưởng bất lợi tới việc tiêu thụ sản phẩm.

Công tác bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng tiếp tục được các địa phương quan tâm chỉ đạo thực hiện. Tuy nhiên, do nắng nóng gay gắt, hanh khô, hạn hán kéo dài kết hợp với gió Tây Nam khiến nhiệt độ khu vực miền Bắc, miền Trung tăng cao, lại đúng vào mùa làm nương rẫy nên cháy rừng xảy ra càng khó kiểm soát. Trong tháng Bảy, cả nước có 418,5 ha rừng bị thiệt hại, trong đó diện tích rừng bị cháy là 330,6 ha, tăng 97,3% so với cùng kỳ năm trước. Do ảnh hưởng của dịch Covid-19 , hoạt động đấu tranh, ngăn chặn vi phạm tại các điểm nóng về phá rừng, khai thác lâm sản trái pháp luật bị hạn chế. Ước tính 7 tháng năm 2021, cả nước có 1.398,3 ha rừng bị thiệt hại, tăng 42,3% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm diện tích rừng bị cháy là 629,3 ha, tăng 40,5%; diện tích rừng bị chặt, phá là 769 ha, tăng 43,8%.

Về thủy sản, sản lượng thủy sản tháng Bảy ước tính đạt 804,1 nghìn tấn, giảm 0,3% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm cá đạt 552,3 nghìn tấn, giảm 1,6%; tôm đạt 135,8 nghìn tấn, tăng 3,4%; thủy sản khác đạt 116,0 nghìn tấn, tăng 1,5%.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước tính đạt 448,1 nghìn tấn, giảm 0,3% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm cá đạt 276,6 nghìn tấn, giảm 2,1%; tôm đạt 123,2 nghìn tấn, tăng 3,7%; thủy sản khác đạt 48,3 nghìn tấn, tăng 0,4%. Dịch Covid-19 bùng phát trở lại khiến xuất khẩu cá tra và tôm trong tháng Bảy gặp nhiều khó khăn: vận chuyển nguyên liệu, hàng hóa sản xuất bị ảnh hưởng, nhiều công-ten-nơ hàng thủy sản bị ách tắc tại các chốt kiểm soát, cước vận tải quốc tế tăng đột biến so với những tháng đầu năm.

Trong tháng 7/2021, sản lượng thủy sản khai thác ước tính đạt 356,0 nghìn tấn, giảm 0,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 275,7 nghìn tấn, giảm 1,1%; tôm đạt 12,6 nghìn tấn, tăng 0,8%. Nhiều địa phương có tàu thuyền hoạt động tham gia khai thác thủy sản trong tháng bị hạn chế do thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngày 31/3/2020. Sản lượng thủy sản khai thác biển tháng Bảy ước tính đạt 340,3 nghìn tấn, giảm 0,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 265,3 nghìn tấn, tăng 1,0%; tôm đạt 11,7 nghìn tấn, tăng 0,9%.

Tính chung 7 tháng năm 2021, sản lượng thủy sản ước tính đạt 4.900,1 nghìn tấn, tăng 2,2% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 2.552,9 nghìn tấn, tăng 3,3%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 2.347,2 nghìn tấn, tăng 1,1% (sản lượng thủy sản khai thác biển đạt 2.242,7 nghìn tấn, tăng 1,2%)./.

5 tháng đầu năm 2021, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tăng 30,3% cũng kỳSản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trong điều kiện thuận lợiBan hành 3 hình thức công bố hợp quy với thức ăn chăn nuôi truyền thống

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l