Chuyển đến nội dung chính

Mường Ảng (Điện Biên): Hiệu quả từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng

 (TN&MT) - Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) thực hiện trên địa bàn huyện Mường Ảng, thời gian qua góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả công tác quản lý và bảo vệ rừng, độ che phủ rừng và chất lượng rừng được nâng lên, cải thiện đời sống, từ đó giúp người dân vươn lên thoát nghèo, gắn bó hơn với rừng.

Hiện nay, huyện Mường Ảng có trên 13.600 ha đất có rừng với trên 12.142 ha rừng tự nhiên, trong đó trên 12.755 ha được chi trả dịch vụ môi trường rừng, tương ứng với số tiền được chi trả trên 5 tỷ đồng. Được nhận khoản tiền chi trả DVMTR với mức cao gấp nhiều lần so với trước đây, đã góp phần cải thiện sinh kế cho người dân tham gia giữ rừng và phục vụ công tác bảo vệ, phát triển rừng bền vững.

Ông Đỗ Tiến Tâm, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Mường Ảng cho biết: Những năm qua, chính sách chi trả DVMTR đã từng bước nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, xa, vùng đặc biệt khó khăn gắn bó và trực tiếp tham gia bảo vệ rừng. Được sự ủng hộ của chính quyền địa phương, các cấp, ngành cho nên việc chi trả DVMTR góp phần lớn vào công tác bảo vệ rừng. Tiền DVMTR được chi trả công khai, minh bạch, đúng đối tượng, người dân sử dụng có hiệu quả.

Từ năm 2018 được nâng mức chi trả tiền DVMTR là động lực để người dân tích cực tham gia công tác bảo vệ và phát triển rừng

Từ khi triển khai thực hiện chính sách, không những giúp người dân nâng cao ý thức trong bảo vệ, PCCCR, mà còn góp phần tạo sinh kế, giúp người dân có thêm việc làm, tăng thu nhập. Ngoài việc chi cho công tác bảo vệ rừng, làm đường giao thông, xây dựng nhà văn hóa, các xã còn sử dụng tiền DVMTR mua trang thiết bị cho tổ công tác, cây giống cho người dân, tạo được sự đồng tình, ủng hộ của người dân vì thế rừng không còn bị phá, diện tích được tăng lên.

Từ năm 2018 mức chi trả tiền DVMTR trên địa bàn huyện Mường Ảng được nâng lên 400 nghìn đồng/ha/năm, từ đó người dân ngày càng tham gia nhiều vào công tác quản lý, bảo vệ và phát triển vốn rừng. Nhiều cộng đồng thôn, bản đã xây dựng hương ước, quy ước bảo vệ rừng, đời sống của người dân trong thôn được cải thiện, đặc biệt, không còn tình trạng phá rừng làm nương, vì người dân hiểu được nguồn lợi từ rừng mang lại. Người dân đã mặn mà hơn với việc bảo vệ và phát triển rừng

Trước đây công tác bảo vệ rừng ở các địa phương gặp nhiều khó khăn, nhưng từ khi mức chi trả dịch vụ môi trường rừng được nâng lên, như tại xã Ẳng Cang, toàn xã có trên 1.623 ha rừng được chi trả dịch vụ môi trường rừng với tổng số tiền DVMTR năm 2020 xã được nhận là hơn 649 triệu đồng. Toàn bộ số tiền đó được chi trả trực tiếp cho các chủ rừng, trong đó phần lớn các chủ rừng là cộng đồng các bản. Mỗi khi được nhận tiền DVMTR, các bản đều trích một số tiền nhất định để phục vụ công tác quản lý, bảo vệ rừng. Do đó, trách nhiệm giữ rừng của người dân nói chung, các tổ, đội bảo vệ rừng nói riêng được nâng lên, nhất là trách nhiệm của bà con trong việc phòng cháy, chữa cháy rừng.

Người dân huyện Mường Ảng tích cực phát triển rừng bằng việc trồng và khoanh nuôi tái sinh.

Bên cạnh đó, không chỉ thực hiện tốt việc bảo vệ rừng, người dân huyện Mường Ảng cũng đang tích cực phát triển rừng bằng việc trồng và khoanh nuôi tái sinh, nhằm tăng diện tích, nâng cao độ che phủ rừng ở địa phương. Việc phát triển rừng hiện nay không đơn thuần được hưởng lợi về môi trường rừng, mà còn được hưởng lợi ích kinh tế trực tiếp bằng tiền từ nguồn chi trả dịch vụ môi trường rừng và một số nguồn hỗ trợ khác về bảo vệ, phát triển rừng. 

Để chính sách chi trả DVMTR tiếp tục mang lại hiệu quả thiết thực hơn nữa, thời gian tới, huyện Mường Ảng tiếp tục tập trung tuyên truyền về Luật Lâm nghiệp, Nghị định 156/2018/NĐ-CP đến người dân, đặc biệt là các cộng đồng thôn bản, hộ gia đình được giao trách nhiệm bảo vệ rừng để nâng cao vai trò, trách nhiệm của người dân trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Vì vậy có thể thấy, chính sách chi trả DVMTR không những giúp người dân nâng cao ý thức trong bảo vệ, PCCCR, mà còn góp phần tạo sinh kế, giúp người dân có thêm việc làm, tăng thu nhập, tạo động lực để người dân gắn bó với nghề rừng.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l