Chuyển đến nội dung chính

Đi lên từ kinh tế rừng

Hóa Sơn là xã biên giới đặc biệt khó khăn của huyện Minh Hóa, những năm gần đây, địa phương này đã có sự vươn lên mạnh mẽ nhờ trồng rừng…

Thời gian trước đây, người dân xã miền núi Hóa Sơn chủ yếu sống dựa vào việc khai thác tài nguyên rừng. Qua hàng chục năm,  diện tích rừng tự nhiên ngày càng bị thu hẹp, diện tích đất trống, đồi núi trọc ngày càng tăng. Không có rừng giữ đất, mưa lũ, thiên tai thường xuyên xảy ra. Đời sống của bà con còn mãi trong gian khó.

Để phát huy thế mạnh đất rừng, huyện Minh Hóa phát động phong trào trồng rừng kinh tế. Trồng rừng đã phát triển rộng khắp các thôn, bản của xã Hóa Sơn.

Trao đổi với chúng tôi, ông Đinh Hồng Tuyên, Chủ tịch UBND xã Hóa Sơn cho biết, toàn xã có gần 900 ha đất trống, đồi núi trọc. Sau khi phong trào trồng rừng kinh tế được phát động vài năm thì toàn bộ diện tích đất đã được giao cho người dân.

“Hầu hết diện tích đất rừng, đồi núi trọc này đã được phủ xanh bởi các loại cây rừng. Trong đó, có nhiều diện tích rừng được trồng bằng các giống cây bản địa có giá trị cao như lim, huỵnh, trầm, huê”, ông Tuyên cho hay.

Rừng trồng đã mang lại thu nhập cao giúp người dân xã miền núi Hóa Sơn vươn lên thoát nghèo. Ảnh: TP.

Rừng trồng đã mang lại thu nhập cao giúp người dân xã miền núi Hóa Sơn vươn lên thoát nghèo. Ảnh: TP.

Chúng tôi về thôn Thuận Hóa (xã Hóa Sơn), thăm gia đình ông Đinh Ngọc Loan. Từ một hộ nghèo, qua trồng rừng đã vươn lên thành khá giả. Qua nhiều năm lăn lộn với trồng rừng, hiện gia đình ông Loan có diện tích rừng trồng gần 6ha.

Dưới tán cây ông Loan còn trồng xen nhiều loại cây ăn quả, cây dược liệu quý để đưa vào diện cây thu loại ngắn ngày. Bây giờ, chỉ tính riêng thu nhập từ cây ăn quả như cam, ổi, cây dược liệu, các sản phẩm phụ từ khu rừng cũng được từ vài chục đến cả trăm triệu đồng. Tuy nhiên, của để dành của gia đình ông Loan chính là hơn nhiều loại cây rừng quý hiếm, trong đó có hàng nghìn cây trầm dó. Ông Loan cho hay: “Hiện tại thì gia đình chúng tôi như đang đầu tư lấy ngắn nuôi dài. Sau này, rừng cây gỗ quý và cây trầm cho thu hoạch cũng kiếm được vài chục tỷ đồng cũng không có gì là khó cả”.

Ở cùng thôn, gia đình ông Đinh Minh Phượng cũng đã thoát nghèo nhờ trồng rừng và đã tự tin vươn lên trở thành hộ khá, giàu ở trong xã. Dù diện tích rừng sản xuất chỉ có hơn 3 ha, nhưng gia đình ông Phượng đã đầu tư thành một trang trại tổng hợp nhỏ để  vững vàng đi lên. Trên diện tích đất rừng, ông còn trồng 200 trụ thanh long ruột đỏ, đầu tư chuồng trại nuôi 6 con lợn nái (giống bản địa và lai rừng) và 40 con lợn thịt. Trung bình mỗi năm, từ việc bán lợn giống, lợn thịt và trồng rừng, gia đình ông Phượng có thu nhập trên 300 triệu đồng.

Hiện, xã Hóa Sơn có 428 hộ với 1.850 nhân khẩu, trong đó đa số là đồng bào dân tộc thiểu số. Kinh tế chủ lực của người dân nơi đây là sản xuất nông nghiệp, nhưng chỉ có 2ha lúa nước, còn lại là đất màu trồng lạc và ngô. Nhờ phát triển kinh tế rừng trồng mà hầu hết người dân ở Hóa Sơn đã vượt qua được đói nghèo.

Ông Đinh Hồng Tuyên, Chủ tịch UBND xã Hóa Sơn cho rằng trong thời gian tới, thông qua các chương trình, dự án để hỗ trợ người dân cây con giống có chất lượng cao nhằm phát triển chăn nuôi và trồng rừng. Ngoài ra, xã Hóa Sơn sẽ tìm kiếm cơ hội và tổ chức cho bà con tham gia các lớp tập huấn, thăm quan các mô hình hay nhằm nâng cao kiến thức, áp dụng tốt các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất.

“Chúng tôi đẩy nhanh hoàn thành việc giao đất giao rừng cho người dân. Khuyến khích, hỗ trợ bà con trồng rừng bằng các giống cây bản địa, cây gỗ lớn và chăn nuôi theo chiều sâu bằng các loại đặc sản, như lợn rừng, gà đồi… để nâng cao giá trị thu nhập, vừa làm tốt nhiệm vụ bảo vệ phát triển rừng”, ông Tuyến chia sẻ.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l