Chuyển đến nội dung chính

Từ bảo vệ thành giám đốc rừng phòng hộ

Ông Phạm Văn Hồ trong trang trại gia đình. Ảnh: L.N.M

Ông Phạm Văn Hồ trong trang trại gia đình. Ảnh: L.N.M 

Trước năm 1990, Lâm trường Thạch Thành, Thanh Hóa (nay là Ban quản lý rừng phòng hộ Thạch Thành) có hơn 600 cán bộ, công nhân, cùng một đội bảo vệ đông đến ba mươi lăm người; nhưng vào các năm 1988, 1989, cứ mỗi tuần lại có thêm dăm ba công nhân nộp xin về mất sức, không những thế mỗi ngày còn “mất bay” một quả đồi rừng; các vụ đâm chém, gây án mạng đã xảy ra như cơm bữa. Còn bây giờ, với chỉ 14 người?...

1. Ông giám đốc ban Quản lý rừng phòng hộ Thạch Thành đồng thời cũng là giám đốc một doanh nghiệp trang trại gia đình, Phạm Văn Hồ tự tay lái xe đưa khách chạy một vệt gần tám mươi cây số, từ thị trấn trung tâm huyện vào khu trồng trọt, chăn nuôi theo công nghệ cao ở thung lũng xã Thành Vân, rồi ngược lên các xã Thành Trực, Thành Vinh...; từ Phố Cát theo quốc lộ 15 đến tận đường Hồ Chí Minh để được mục sở thị những rừng thông, đồi keo tai tượng, những rừng cây lát hoa xanh ngắt nổi lên giữa các thung lũng trang trại, nơi thì cây ăn quả, nơi thì nuôi lợn, dê, trâu, bò; lại có nơi chỉ trồng tuyền cây sả... Ấn tượng ban đầu với chúng tôi, đó là sức sống phồn sinh từ đất đai yên bình, từ năng động của những con người yêu rừng có tri thức, có chí hướng làm giàu...

2. Nhớ về một thời quá khứ chưa xa, ông Phạm Văn Hồ kể lại, Lâm trường Thạch Thành trước năm 1990 có hơn sáu trăm cán bộ,công nhân chia làm mười lăm đội sản xuất vừa làm nhiệm vụ khai thác, vừa trồng mới tại các địa bàn rừng mà lâm trường được giao quản lý. Ngày ấy rừng còn rộng, gỗ còn nhiều nên chủ yếu chỉ tập trung cho công việc khai đúng như tinh thần bài hát với chùm ca từ: Rừng ơi ta đã về đây/ Mang sức của đôi tay.../ Cây đổ rộn vang như tiếng pháo/ Tiếng hò nhịp theo trâu kéo gỗ/ Áo thấm bao mồ hôi nhưng lòng rộn bao niềm vui...

Nhưng rừng và gỗ rừng không phải là nguồn vô tận.

Đến những năm cuối thập niên 1980, rừng mỗi năm một cùng kiệt, công tác bảo vệ rừng vô cùng gian nan vất vả, phải đối mặt với nguy hiểm rủi ro từng giờ, từng ngày. Bởi thế, ban giám đốc lâm trường đã bố trí một đội bảo vệ hầu hết là anh em bộ đội chuyển ngành đã qua huấn luyện, chiến đấu, là Đảng viên, Đoàn viên tích cực có sức khỏe, nhanh trí và chấp nhận gian khổ, hy sinh. Chàng trai cựu chiến binh, từng tham gia đánh giặc nhiều năm trên tuyến bảo vệ biên giới phía Bắc, Phạm Văn Hồ có mặt trong đội ngũ đó. Thế nhưng đội bảo vệ và lâm trường vẫn không thể nào giữ được rừng trước nạn lâm tặc hoành hành. Đặc biệt, trong hai năm 1988, 1989, tính bình quân mỗi ngày lâm trường mất gọn một ngọn đồi rừng. Đội bảo vệ phải căng quân ra như chão và luôn bị tai họa rình rập. Bản thân đội trưởng bảo vệ Phạm Văn Hồ từng là một trinh sát bộ đội đặc công cũng bị chém hai nhát chí mạng sâu mười phân, chỉ cách cột sống và bàng quang có một xăng ti mét. Những ngày nằm viện điều trị vết thương, anh thanh niên cựu chiến binh Phạm Văn Hồ suy nghĩ rất nhiều, tại sao lâm tặc lại đông đến thế và khó chế ngự đến thế? Có nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân chính là vì dân đói quá! Lâm tặc, nhìn đi nhìn lại, thì phần đông là bà con trong vùng, là người dân tộc thiểu số, là cựu công nhân lâm trường, là người nghèo ngoài Phố Cát và các làng bản lân cận đổ vào rừng kiếm sống. “Đói ăn vụng, túng làm càn!”.

Vì thế, nếu chỉ tập trung đối phó cứng với đám phá rừng này là không thể mà phải kết hợp nhiều biện pháp. Trong đó biện pháp hàng đầu là làm sao để dân không còn bị đói.

Hàng ngày đi gác rừng, đội trưởng bảo vệ Phạm Văn Hồ thấy giữa các ngọn đồi là những thung lũng bằng phẳng, đất đai khá mầu mỡ. Tại sao lại chỉ để cho cỏ tranh và cây sim, cây mua mọc hoang? Cách nghĩ của anh may gặp đúng lúc lãnh đạo Lâm trường Thạch Thành khoán rừng đến hộ công nhân như là một giải pháp đột phá nhằm phát huy sức dân, khẳng định quyền làm chủ của dân để giữ rừng, để sản xuất ra hoa lợi, cải thiện và nâng cao đời sống con người. Gia đình Đảng viên trẻ Phạm Văn Hồ là hộ đầu tiên nhận khoán chín quả đồi với diện tích 30 ha và cũng là doanh nghiệp trồng rừng quy mô gia đình đầu tiên của lâm trường Thach Thành...

Kể đến đó, giọng ông giám đốc bỗng trầm xuống: “Đêm đầu tiên vợ chồng tôi và hai con nhỏ ở rừng là một đêm mưa ngâu. Có một ngọn đèn dầu thì phải đặt ở hiên lều để hút hết muỗi và các loại côn trùng về phía đó, rồi tiếp theo, cuộc sống ở rừng ngày một thêm vất vả, gian truân, đơn lẻ. Nhớ lần đứa con nhỏ bị rắn độc cắn phải vác con chạy vào vùng bà con dân tộc nhờ hái lá thuốc cứu chữa trong đêm; nhớ ngày bị sốt rét mệt lử cò bợ, da nổi sần đỏ như bánh tráng gấc vẫn cố trụ lại nhà hai tuần lễ, đến lúc lên cơn co giật mới nháo nhào nhập viện cấp cứu... mà hãy còn thót tim. “Người là hoa của đất!”, các cụ dạy không hề sai! Hàng ngày, sáng ra, cứ thấy chín ngọn đồi, những cây lát hoa, cây keo tai tượng rồi cam chanh... mình trồng cứ xanh tốt dần lên, lâm tặc bớt dần đi, rồi vắng hẳn, bụng dạ thấy vui, chân tay thấy muốn làm việc, đầu óc muốn nghĩ ngợi, tính toán về lâu về dài. Hai cặp bò mua ngày vừa vào rừng đã dần dà hình thành một đàn bò mười lăm con, con nào con ấy béo nây; tối tối vừa đi gác rừng, vừa đặt ống lươn, sáng ra đi đổ ống, không những có thức ăn tươi đủ trong ngày mà còn dư hàng mấy ki lô đem bán, gom góp đủ tiền mua được xe đạp tốt cho cả chồng lẫn vợ. Đến năm 1996 thì vợ chồng tôi làm được nhà kiên cố với kinh phí năm mươi triệu đồng, một ngôi nhà được coi là hoành tráng nhất dưới thung lũng rừng phòng hộ lúc bấy giờ”...

3. Chúng tôi đến thăm vùng di tích chiến khu Ngọc Trạo đánh Pháp Nhật năm 1940, 1941 thì gặp bà Thạc sỹ Quách Thị Tươi, Trưởng ban Tuyên giáo Huyện ủy Thạch Thành. Là người quen biết cũ, tôi hỏi thêm những câu chuyện về phòng hộ rừng ở Thạch Thành, bà Tươi vui vẻ tin cậy nói: “ Anh cứ khai thác anh Hồ là đủ. Anh ấy hiểu rừng, bảo vệ rừng như nắm vật quý trong tay đấy”. Nói thế nhưng rồi bà Tươi cũng cho tôi biết thêm, tuy xuất thân là bảo vệ nhưng ông Phạm Văn Hồ hiện có đến hai bằng đại học. Là người rất tiến thủ, từ cái hồi còn là đội trưởng bảo vệ nhận khoán chín ngọn đồi, gồm sáu mươi mẫu đất vừa trồng rừng vừa làm trang trại, ông Phạm Văn Hồ đã tính đến chuyện, muốn làm ăn hiệu quả, ngoài cần cù, siêng năng, ngoài biết tính toán trù liệu, còn phải cập nhật được kỹ thuật, công nghệ. Thế nên, vào năm 2001, khi đã 39 tuổi, ông Hồ vẫn còn nộp đơn, xin thi đại học và đỗ vào trường Đại học Lâm nghiệp ở Chương Mỹ, Hà Tây cũ.

Đi học xa là một thử thách lớn vì lãnh đạo lâm trường lúc đó chỉ đồng ý cho ông Hồ đi học, còn những thứ khác như nhiệm vụ của một đội trưởng bảo vệ, kinh phí học tập cho cả khóa..., cá nhân ông đều phải tự sắp xếp. Sinh viên “cao tuổi” Phạm Văn Hồ đã đăng ký chương trình học theo lịch mỗi tháng mười ngày liên tục. Ở đơn vị bảo vệ của lâm trường, các đồng nghiệp cáng đáng công việc cho ông khi đi học vắng. Sau đợt học xong hàng tháng, ông về đội đảm nhiệm hai mươi ngày còn lại và nhận thêm nhiều suất gác đêm. Chi phí học tập thì đến bây giờ mọi người ở Ban quản lý rừng phòng hộ Thạch Thành vẫn thường hay đùa rằng, giám đốc của họ là kỹ sư “sáu bò”! Bởi để có kinh phí cho bốn năm đi học đại học ngành lâm nghiệp, vợ ông Hồ đã bán đi cả thảy sáu con bò to nhất đàn.

Vào năm 2010, Lâm trường Thạch Thành được chuyển đổi chức năng nhiệm vụ thành Ban Quản lý rừng phòng hộ Thạch Thanh, kỹ sư Phạm Văn Hồ được bổ nhiệm làm giám đốc Ban này. Lại thấy cần phải học để có kiến thức về quản lý, ông đăng ký học lớp đại học luật tại chức tại thành phố Thanh Hóa và năm 2015 đã có bằng đại học thứ hai...

4. Bà Quách Thị Tươi cho tôi biết thêm, trang trại của ông Phạm Văn Hồ lúc đầu rộng lắm, giờ chỉ còn chừng một phần ba thôi, vì ông ấy đã san sẻ cho một số hộ công nhân của lâm trường Thạch Thành trước đây đã bỏ về quê nhưng ở quê khó bề sinh nhai, nên họ phải quay lại đơn vị cũ xin đất, xin rừng để tái lập nghiệp. Nhờ có ông giám đốc rộng lòng bao dung nên đến nay những hộ này đều trở thành những hộ trồng rừng, hộ làm trang trại, doanh nghiệp mi-ni vào loại khá giả.

Đi trên trục chính của khu trang trại rộng mười ba héc ta, chúng tôi cảm nhận ngay được rằng, đây là cơ ngơi của một chủ hộ, một người giữ hai chức giám đốc biết làm ăn trong thời đại công nghệ 4.0. Các thửa vườn rộng rãi trồng cây ăn quả chất lượng cao như Macca, Thanh long ruột đỏ, Cherry, Hồng không hạt... được quy hoạch mạch lạc như những ô bàn cờ với hệ thống tưới tiêu, chống nóng, giữ ẩm hiện đại; hoa lợi thì ngời màu sung mãn trong ánh nắng vàng chiều hôm và trải đến tận chân đồi rừng phòng hộ xanh ngút ngàn, trồng toàn giống cây gỗ quý đã có hơn chục tuổi.

BÚT KÝ CỦA LÊ NGỌC MINH

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l