Chuyển đến nội dung chính

Người dân bản Hua Rốm (Điện Biên) yên tâm giữ rừng

 (TN&MT) - Hiện nay, tại các thôn, bản mô hình bảo vệ rừng theo cộng đồng dân cư đã và đang phát huy hiệu quả, nhất là việc sử dụng nguồn kinh phí từ dịch vụ môi trường rừng, đã giúp nhiều thôn bản có thêm những công trình công cộng khang trang, góp phần làm thay đổi diện mạo của địa phương.

Những năm trở lại đây, người dân bản Hua Rốm, xã Nà Tấu, Thành Phố Điện Biên Phủ đã thực hiện tốt công tác bảo vệ tài nguyên rừng sau khi được giao quản lý, bảo vệ rừng. Được hưởng tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng, nhờ đó rừng được bảo vệ tốt hơn, huy động được đông đảo người dân tham gia bảo vệ diện tích rừng hiện có.

Theo ông Vàng A Thư, Trưởng bản Hua Rốm xã Nà Tấu cho biết: Cộng đồng bản Hua Rốm có 127 hộ dân được giao quản lý, bảo vệ và khoanh nuôi hơn 100ha rừng. Thời gian qua ý thức của người dân trong công tác quản lý, bảo vệ rừng ngày càng được nâng cao. Đặc biệt các hộ đều được nhận tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng. Những năm cao nhất cộng đồng bản nhận được hơn 1.3 tỷ đồng. Số tiền này đã giúp một số hộ tăng thu nhập ổn định để thoát nghèo, ngoài ra có nguồn vốn phát triển thêm diện tích trồng rừng mới.

Người dân bản Hua Rốm xã Nà Tấu, TP Điện Biên Phủ, tích cực chăm sóc bảo vệ rừng

Trước đây, khi nhận tiền chi trả DVMTR sẽ chia đều số tiền bình quân theo các hộ, có những hộ không tham gia bảo vệ rừng vẫn được hưởng tiền nên rất khó khăn trong việc huy động các hộ dân tham gia vào công tác tuần tra, bảo vệ rừng. Dẫn đến hàng năm vẫn còn tình trạng chặt phá rừng. 

Nhưng từ khi cộng đồng bản Hua Rốm nhận quản lý, bảo vệ rừng, được tham gia các buổi tập huấn, tuyên truyền của cán bộ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Điện Biên, nhận thức của bà con nhân dân về việc bảo vệ rừng được nâng lên, không còn xảy ra tình trạng người dân chặt phá rừng. Bên cạnh đó, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng giúp bà con có động lực để quản lý, bảo vệ rừng, thường xuyên đi kiểm tra diện tích rừng được giao. 

Ông Mùa A Kềnh, Bí thư Đảng ủy xã Nà Tấu, Thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên cho biết: Số tiền DVMTR được Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Điện Biên chi trả hằng năm được cộng đồng thôn, bản dùng vào mua sắm trang thiết bị phục vụ công tác bảo vệ rừng như dao phát, máy phát thực bì, đồ bảo hộ trong tuần tra bảo vệ rừng, PCCCR. Chi trả cho người dân trực tiếp tham gia tuần tra, ngăn chặn tình trạng phá rừng, chữa cháy rừng. Mức chi cho hoạt động tuần tra được tính theo quy định của UBND tỉnh về mức chi bồi dưỡng, hỗ trợ cho các tổ chức, cá nhân được huy động hoặc tự nguyện tham gia để ngăn chặn tình trạng chặt phá rừng trái pháp luật và PCCCR trên địa bàn, hỗ trợ xăng dầu cho phương tiện tham gia tuần tra, kiểm tra rừng; hỗ trợ các thành viên tham gia trực PCCCR trong mùa khô.

Từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, người dân yên tâm giữ rừng và phát triển rừng

Bên cạnh đó, tại các buổi họp của công đồng thôn, bản đã đưa ra bàn bạc, thảo luận về các trường hợp vào chặt phá rừng, nếu vi phạm sẽ phạt tiền sung quỹ cộng đồng và hộ đó cũng không được hưởng chi trả dịch vụ môi trường rừng. Cùng với đó là lấy ý kiến của người dân về hoạt động của Ban quản lý rừng cộng đồng, tổ bảo vệ rừng và việc quản lý, sử dụng tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng... Hầu hết người dân trong thôn đều đồng thuận với việc dùng số tiền chi trả cho công tác bảo vệ rừng. Phần còn lại sử dụng vào các hoạt động chung của thôn như: mua sắm vật dụng thiết yếu, hội họp, xây dựng các công trình...

Có thể thấy, từ ngày có tiền dịch vụ môi trường rừng, người dân vui vẻ, đồng thuận cùng nhau đóng góp làm đường, làm nhà văn hóa thôn, xây bể chứa rác thải công cộng…Đồng thời cùng nhau đóng góp để duy tu, bảo vệ, sử dụng công trình đó. Từ đó, người dân nêu cao tinh thần trách nhiệm và nghĩa vụ, tự nguyện xây dựng quy ước quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Tập quán sinh sống dựa vào rừng không chỉ được xóa bỏ, người dân còn tham gia cùng cơ quan chức năng ra sức tuần tra, bảo vệ rừng nghiêm ngặt, diện tích rừng do thôn quản lý không còn xảy ra tình trạng chặt phá, lấn chiếm làm nương rẫy. 

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l