Chuyển đến nội dung chính

Nậm Pồ (Điện Biên): Phát triển rừng nhờ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng

 (TN&MT) - Thời gian qua, huyện Nậm Pồ thực hiện đồng bộ các giải pháp trong công tác quản lý, bảo vệ rừng và chính sách chi trả dịch vụ môi trường, nhằm khuyến khích các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn, bản, các tổ chức kinh tế nhận rừng để sản xuất, tạo cơ hội và động lực cải thiện đời sống cho người dân, cuộc sống người dân thêm ấm no nhờ rừng

Hiện nay, trên địa bàn huyện Nậm Pồ đã giao 52.043,66 ha đất có rừng cho 136 chủ rừng (103 Cộng đồng dân cư, 33 Hộ gia đình và 01 tổ chức); cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 125 chủ rừng (99 Cộng đồng dân cư, 26 Hộ gia đình) với 51.354,07ha, làm cơ sở cho nhân dân được hưởng chính sách chi trả DVMTR hàng năm. Đồng thời, gắn trách nhiệm quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền vững và lâu dài.

Những năm qua. chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã và đang ngày càng khẳng định hiệu quả trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Bên cạnh việc tạo lập cơ sở kinh tế bền vững cho các chủ rừng, yên tâm bảo vệ rừng, chính sách này ngày càng khẳng định là một nguồn lực quan trọng để huyện Nậm Pồ (Điện Biên) xóa đói giảm nghèo bền vững từ bảo vệ và phát triển rừng

Những cánh rừng huyện Nậm Pồ được bảo vệ xanh tốt nhờ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng

Ông Trần Đức Quyền, Phó hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Nậm Pồ cho biết: Toàn huyện Nậm Pồ (tỉnh Điện Biên) có trên 62.000ha đất lâm nghiệp có rừng, độ che phủ rừng đạt 41,7%. Ðể công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng và việc chi trả dịch vụ môi trường rừng đạt hiệu quả, UBND huyện Nậm Pồ đã chỉ đạo các phòng, ban chuyên môn của huyện phối hợp với UBND các xã trên địa bàn tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến các quy định, hướng dẫn mới về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.

Tại những khu vực được hưởng chính sách chi trả DVMTR, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các chủ rừng, các bộ phận nhận khoán bảo vệ rừng với chính quyền địa phương, hạt kiểm lâm trong công tác bảo vệ và phát triển rừng bền vững. Cùng với đó, Hạt kiểm lâm huyện sẽ tiếp tục phối hợp cùng Quỹ bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh tăng cường tuyên truyền đến người dân chính sách chi trả DVMTR để công tác quản lý, bảo vệ rừng đạt hiệu quả cao hơn.

Ðồng thời, thực hiện khoanh nuôi, tái sinh rừng tự nhiên, trồng cây phân tán; rà soát, cắm biển báo khu vực chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn huyện. Qua đó, công tác quản lý, bảo vệ rừng từng bước đi vào nề nếp; tỷ lệ che phủ rừng năm sau cao hơn năm trước. Người dân không những dân tự ý thức được trách nhiệm gìn giữ nguồn tài nguyên rừng mà còn tích cực tham gia nhận khoán khoanh nuôi bảo vệ thêm diện tích rừng, trồng rừng; đồng thời, trồng các loại cây lâm sản ngoài gỗ để tăng thu nhập từ nghề rừng.

Chính sách chi trả DVMTR giúp người dân huyện Nậm Pồ cải thiện cuộc sống, tích cực tham gia bảo vệ rừng.

Ông Nguyễn Phú Thiết, Chủ tịch UBND xã Nà Hỳ, huyện Nậm Pồ cho biết: Được hưởng lợi từ rừng, nhận tiền chi trả DVMTR, người dân trên địa bàn xã đã ý thức hơn trong việc bảo vệ rừng, giữ rừng. Các cộng đồng thôn bản nhận khoán bảo vệ rừng đã phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương, lực lượng kiểm lâm trong công tác bảo vệ rừng; hạn chế được tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản trái phép tại các khu vực rừng được chi trả DVMTR.

Từ khi thực hiện chính sách chi trả DVMTR, bà con bản Nà Hỳ 1 được hưởng lợi về kinh tế từ hơn 343ha rừng mang lại nên ý thức bảo vệ rừng của người dân được nâng cao. Cùng với đó, nhân dân bản Nà Hỳ 1 được chi trả trên 400 triệu đồng. Nhận tiền DVMTR, bà con trong bản phần mua lương thực, phần trang trải cuộc sống. Nhờ có tiền DVMTR, được hưởng lợi từ rừng, bà con bản Nà Hỳ 1 ngày càng có ý thức hơn, trách nhiệm hơn trong công tác bảo vệ, phát triển rừng.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l