Chuyển đến nội dung chính

Nà Tấu: Nhiều giải pháp tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng

 

(TN&MT) - Thời gian qua, xã Nà Tấu, TP. Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên tăng cường công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, tạo sự chuyển biến tích cực về nhận thức, trách nhiệm của người dân trong việc chấp hành các quy định của Nhà nước về quản lý, khoanh nuôi bảo vệ rừng. Từ đó, đem lại những lợi ích thiết thực về kinh tế - xã hội, tăng độ che phủ rừng, đảm bảo nguồn thu nhập ổn định, góp phần xóa đói, giảm nghèo cho người dân trong xã.

Ông Mùa A Kềnh, Bí thư Đảng ủy xã Nà Tấu, TP. Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên, cho biết: Hiện nay, diện tích đất có rừng của xã là 3.400ha, tỷ lệ che phủ rừng đạt 57%, 14 bản trên địa bàn xã có rừng đều được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng (DVMTR). Tuy nhiên việc quản lý, sử dụng tiền chi trả DVMTR của các chủ rừng còn những bất cấp như:  Một số cộng đồng chưa công khai, minh bạch việc sử dụng số tiền được nhận từ nguồn DVMTR. Việc chia đều số tiền chi trả hàng năm bình quân theo số hộ của cộng đồng bản, không khuyến khích được người dân tham gia quản lý, bảo vệ rừng. Bởi có hộ không tham gia các hoạt động bảo vệ rừng, cũng vẫn được hưởng tiền công như những hộ tham gia bảo vệ, nên đã nảy sinh nhiều bất cập. 

Nhân dân xã Nà Tấu, TP Điện Biên Phủ chăm sóc và bảo vệ rừng

Bởi vậy, để làm tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng, xã Nà Tấu xác định giải pháp cần chú trọng hàng đầu là tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho các tầng lớp nhân dân cùng tham gia giữ rừng. Lên kế hoạch tuần tra, kiểm tra rừng. 
Cùng với đó, chính quyền xã Nà Tấu đã chủ động mời Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh xuống hướng dẫn cụ thể trình tự các bước lập kế hoạch, sử dụng tiền DVMTR tại thôn, bản; quản lý tài chính, quản lý tiền mặt DVMTR. Khi có hướng dẫn cụ thể cộng đồng, các chủ rừng là cộng đồng thôn, bản biết phân bổ hợp lý số tiền chi trả DVMTR, để tổ chức tuần tra bảo vệ rừng. Mọi thành viên trong cộng đồng của bản đều tham gia. Ban quản trị của từng cộng đồng chủ động lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và chấm công cho những thành viên tham gia tuần tra, bảo vệ rừng, ghi chép đầy đủ số lần tham gia. Từ đó có cơ sở thanh toán tiền công tuần tra bảo vệ rừng, động viên khích lệ các thành viên tích cực tham gia công tác bảo vệ rừng.

Hàng năm, xã Nà Tấu phối hợp với kiểm lâm trên địa bàn, ứng dụng khoa học công nghệ vào công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên bản đồ vệ tinh. Để khoanh vẽ vùng biến động về khai thác rừng, trồng rừng hay để xác định chính xác vị trí khu vực rừng của từng thôn, bản. Từ đó hướng dẫn các cộng đồng và chính quyền địa phương đưa ra phương án, kế hoạch quản lý, bảo vệ và phát triển rừng hợp lý, phù hợp với thực tế của địa phương. Cùng với đó, kết hợp với các lực lượng bảo lâm phối hợp cùng với xã để tuần tra, kiểm soát rừng, hướng dẫn người dân khai thác gỗ và lâm sản. Tăng cường kiểm tra thường xuyên nắm bắt phát hiện trường hợp vi phạm để ngăn chặn xử lý những hành vi chặt phá rừng, nhờ vậy ý thức của người dân đã được nâng lên rõ rệt, không còn tình trạng chặt phá rừng bừa bãi, thay vào đó là tập trung trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng.

Người dân bản Nà Tấu 2 thường xuyên phối hợp với cán bộ kiểm lâm và bảo lâm xã tuần tra, bảo vệ rừng

Điển hình trong những năm vừa qua, bản Nà Tấu 2 xã Nà Tấu, TP. Điện Biên Phủ sau khi nhận tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng đã sử dụng chi công trực tiếp cho tổ bảo vệ rừng, cải thiện sinh kế cho các hộ gia đình. Còn lại các hộ đóng góp 123 triệu để làm quỹ xây dựng nhà văn hóa của bản.

Hầu hết các hộ gia đình, cộng đồng tham gia quản lý bảo vệ rừng là người dân tộc thiểu số. Cùng với việc tuyên truyền chính sách chi trả DVMTR, công tác quản lý, bảo vệ rừng, hướng dẫn các cộng động thôn, bản cách lập kế hoạch quản lý, sử dụng tiền DVMTR hiệu quả. Còn phải  tăng cường công tác tuyên truyền, để từng người dân nắm rõ, thấy được tầm quan trọng của công tác bảo vệ rừng, nêu cao tinh thần trách nhiệm và nghĩa vụ, tự nguyện xây dựng quy ước quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l