Chuyển đến nội dung chính

Cần xem xét lại nội dung bản án dân sự của TAND T. Đắk Nông

 

Cơ quan tố tụng cần phải tôn trọng chứng cứ, sự thật để ra những quyết định đúng quy định pháp luật, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp của người dân.

Ngày 7-7, ông Trần Văn Lưỡng, sinh năm 1974, thường trú tại thôn Đắk Kual 6, xã Đắk N’drung, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông cho biết, ông đã viết đơn kiến nghị gửi đến Chánh án TAND Tối cao; Viện trưởng VKSND Tối cao; Chánh án TAND Cấp cao; Viện trưởng VKSND cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh đề nghị xem xét lại và ra quyết định về việc, tuân thủ pháp luật của Hội đồng xét xử đối với các nội dung nhận định trong Bản án số 23/2021/DS-PT, ngày 25/2021 của TAND tỉnh Đắk Nông. Ông Lưỡng cho biết, các nội dung nhận định trong Bản án trên đang gây bất lợi cho ông trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định pháp luật.

Theo nội dung đơn của ông Lưỡng : Năm 2001, ông Trần Văn Sỹ khai hoang diện tích đất khoảng 1,5 ha (tại khoảnh 9, tiểu khu 1127, xã Thuận Hà). Năm 2003, ông Trần Văn Sỹ sang lại cho ông Trần Văn Hanh. Năm 2006, ông Trần Văn Hanh bán cho ông Nguyễn Văn Vịnh (có giấy bán đất ngày 28/01/2006).

Ngày 09/02/2006, ông Nguyễn Văn Vịnh sang lại cho ông Trần Văn Lưỡng diện tích khoảng 2ha, tại khoảnh 9, tiểu khu 1127, xã Thuận Hà, có Tứ cận(Giáp đường lô; giáp suối; giáp đất ông Hưng; giáp đất ông Ân), với giá 3.500.00 đồng, có ông Nguyễn Văn Hiệp làm chứng. Ông Trần Văn Hanh, ông Trần Văn Lưỡng thực hiện việc chỉ ranh, mốc đo đạc, giao nhận. Sau đó, ông Trần Văn Lưỡng trồng lúa, hoa màu được khoảng 2 năm.
Đến cuối năm 2008, ông Trần Văn Lưỡng có việc đi về Bắc khoảng 3 tháng thì ông Vũ Văn Hướng đã lấn chiếm toàn bộ diện tích đất trên của ông Lưỡng để trồng hoa màu và từ năm 2009 đến tháng 10/2017.. Sau khi chiếm được đất, ông Hướng đã dựng nhà và trồng cây trên diện tích đất này.

Diện tích đất tranh chấp giữa vợ chồng ông Trần Văn Lưỡng, bà Nguyễn Thị Thoa và ông Vũ Văn Hướng, bà Trần Thị Tuyết xảy ra nhiều năm nay nhưng vẫn chưa có một phán quyết nào phù hợp với thực tế.

Theo Quyết định 1524/QĐ-UBND ngày 24/10/2008 của UBND tỉnh Đắk Nông, từ ngày 24/10/2008 diện tích khoảnh 9, tiểu khu 1127 xã Thuận Hà được chuyển thành đất nông nghiệp nhưng UBND huyện Đắk Song chưa có phương án bố trí sử dụng. Để đòi lại đất, năm 2009, ông Trần Văn Lưỡng đã gửi đơn đến UBND xã Thuận Hà đề nghị giải quyết việc tranh chấp đất đai nhưng UBND xã Thuận Hà cứ đẩy vụ việc sang Cty TNHH MTV lâm nghiệp Thuận Tân xử lý mặc dù văn bản số 1555/STNMT-TTr ngày 1/11/2002 của Sở TNMT Đắk Nông khẳng định, diện tích đất trên không thuộc quyền quản lý của Cty TNHH MTV lâm nghiệp Thuận Tân mà vụ việc thuộc thẩm quyển giải quyết của UBND xã Thuận Hà.

Tiếp đó, ông Lưỡng đã gửi đơn khiếu nại tới huyện, tỉnh, tuy nhiên thời gian 10 năm không được cấp nào giải quyết nên ngày 04/12/ 2017, ông Trần Văn Lưỡng khởi kiện vụ án hành chính, được TAND huyện Đắk Song thụ lý vụ số 01/TB-TLVA ngày 23/01/2018.

Quá trình giải quyết tại Tòa án, Chủ tịch UBND xã Thuận Hà đồng thuận việc tiến hành hòa giải tranh chấp đất đai tại xã theo pháp luật, vụ án được đình chỉ.

Đến ngày 01/02/2018, Chủ tịch UBND xã Thuận Hà tiến hành thủ tục hòa giải tranh chấp (không thành), ông Trần Văn Lưỡng đã khởi kiện vụ án tại TAND huyện Đắk Song.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2021/DS-ST ngày 05/01/2021 của TAND huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn Lưỡng; Buộc ông Vũ Văn Hướng trả lại cho ông Trần Văn Lưỡng 19.446 m2 đất (đất tranh chấp nêu trên); Tạm giao cho ông Trần Văn Lưỡng quản lý. Việc cấp quyền sử dụng đất theo Quyết định số 2004/QĐ - UBND ngày 11/12/2019 của UBND tỉnh Đắk Nông. Quan điểm ông Lưỡng đồng thuận với nội dung tuyên bố trên của Tòa án là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về nội dung tuyên xử, buộc ông Trần Văn Lưỡng phải hoàn trả lại cho ông Vũ Văn Hướng số tiền 1.391.995.500 đồng, ông Lưỡng không đồng thuận với Tòa án. Theo ông Lưỡng, việc thẩm định giá trị tài sản trên đất không theo chuẩn định mức kinh tế - kỹ thuật cây trồng trên (ha). Diện tích đất trên thực tế chỉ có 19456 m2 . Năm 2016 bị đơn dựng nhà, đào giếng nước, làm sân, lối đi hết 156m2 đất còn lại 19300m2 ; chiếu theo chuẩn định mức kinh tế - kỹ thuật cây trồng trên (ha), quy định tại Quyết định số 27/2018/QĐ-UB của UBND tỉnh Đắk Nông, thì 1915 trụ hồ tiêu (1700 trụ /ha), phải trồng trên diện tích tương ứng 11.264m2; 1353 cây cà phê (1110 cây/ha), phải trồng trên diện tích tương ứng 12.189m2 ; và 06 cây rầu riêng, 03 cây bơ, 14 cây mít, 03 cây ổi, 01 cây nhót (khoảng 185 cây/ha), phải trồng trên diện tích tương ứng 1.620m2. Với dịên tích xây dựng và trồng các cây trên đất nêu trên, chiếu theo định mức kinh tế - kỹ thuật do Nhà nước quy định phải có 2,6 ha (tức 26.000 m2 đất) mới đủ dịên tích xây dựng và trồng các cây trên.

Như vậy, đủ chứng minh bị đơn đầu tư không đúng tiêu chuẩn kỹ thuật Nhà nước quy định, nên tài sản đầu tư trên 19456 m2 nêu trên phải phá bỏ ít nhất 1/3 số cây trồng trên đất mới bảo đảm hiệu quả kinh tế. Tình tiết này không được Tòa sơ thẩm xem xét.

Về thẩm định giá trị tài sản trên đất, Hội đồng định giá không áp dụng nguyên tắc thẩm định theo giá thị trường theo Thông tư 158/2014/TT-BTC ngày 27/10/2014. Kết quả thẩm định giá cao hơn giá cả thị trường (giá mua, bán QSDĐ khoảng 0,3 tỷ đồng/ha, cây lâu năm trên đất tương ứng chỉ với giá 0,2 đến 0,3 tỷ đồng/ha). Tình tiết này không được Tòa sơ thẩm xem xét. Về Tài sản bị đơn đầu tư trên đất vi phạm Luật Đất đai.

Nếu chiếu theo Nghị định số 91/2019/NĐ - CP của Chính phủ thì không được bồi thường. Nếu pháp luật dân sự buộc nguyên hoàn trả thì ông Lưỡng chỉ bồi hoàn 0,3 tỷ đồng/ha là hợp tình, hợp lý. Vì vậy, ông Trần Văn Lưỡng kháng cáo một phần nội dung Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2021/DS-ST ngày 05/01/2021 của TAND huyện Đắk Song. Yêu cầu TAND tỉnh Đắk Nông sửa bản án theo hướng buộc ông Trần Văn Lưỡng phải hoàn trả lại cho ông Vũ Văn Hướng số tiền 300.000.000 đồng. Ngoài ra, nội dung bản án của TAND huyện Đắk Song cũng bị Viện KSND huyện Đắk Song kháng nghị. Bản án số 23/2021/DS-PT, ngày 25/5/2021 của TAND tỉnh Đắk Nông tuyên xử, chấp nhận kháng nghị của VKSND và một phần nội dung kháng cáo của ông Trần Văn Lưỡng. Đồng thời hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2021/DS-ST ngày 05/01/2021 của TAND huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông; chuyển hồ sơ vụ án cho TAND huyện Đắk Song giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

Trao đổi với PV, ông Trần Văn Lưỡng cho biết, tôi đồng ý với nội dung tuyên xử trên của Tòa án phúc thẩm là có căn cứ đúng pháp luật. Tuy nhiên, tôi không đồng ý với một số nội dung nhận định trong Bản án số 23/2021/DS-PT ngày 25/5/2021 của TAND tỉnh Đắk Nông. Cụ thể, nhận định (1): “ Các bên chặt phá rừng trái phép của Công ty Thuận Tân, vi phạm Điều 12 Luật về bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, việc chuyển nhượng đất cho nhau là trái pháp luật về hình thức và nội dung các giao dịch chuyển nhượng đất nêu trên không đảm bảo các điều kiện thực hiện của giao dịch dân sự theo Điều 122 Bộ luật dân sự năm 2005. Vì vậy giao dịch chuyển nhượng đất của nguyên đơn, bị đơn là giao dịch dân sự vô hiệu theo Điều 127 Bộ luật dân sự. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh thay đổi chấm dứt quyền nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập theo Điều 137 Bộ luật dân sự ”. Ông Lưỡng cho rằng, nội dung nhận định trên không phù hợp với nội dung khởi kiện và nội dung kháng cáo của nguyên đơn. Tòa án phúc thẩm quy kết hành vi phá rừng trái phép của công ty Thuận Tân, vi phạm Điều 12 Luật về bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 nhưng Tòa án không đưa ra được tài liệu chứng minh không gian, thời gian, đối tượng vi phạm.

Ngược lại tài liệu hồ sơ vụ án đủ chứng cứ chứng minh, là năm 2001 diện tích đất tranh chấp là đất trống, không có cây rừng, nhân dân thấy đất khai hoang nên tự ý khai phá để làm mầu và trồng cà phê, không có sự ngăn chặn nào từ phía Lâm trường hoặc chính quyền cơ sở, chiếu theo Quyết định 1524/QDD-UBND ngày 24/10/2008 của UBND tỉnh Đắk Nông thì diện tích đất tranh chấp trên không còn là đất lâm nghiệp. Tòa án phúc thẩm căn cứ Điều 122, Điều 127 Bộ luật dân sự năm 2005 để quy kết giao dịch chuyển nhượng đất của nguyên đơn với bị đơn là giao dịch dân sự vô hiệu là sai lầm nghiêm trọng. Vì trên thực tế nguyên đơn và bị đơn không có giao dịch chuyển nhượng đất và không có tranh chấp hợp đồng.

Tòa án phúc thẩm không xem xét tài liệu chứng minh nguồn gốc đất đai có tranh chấp, không đề cập chính sách pháp luật đất đai hiện hành là căn cứ pháp luật trong việc xác lập nguồn gồc phát sinh quyền sử dụng đất, không đề cập căn cứ pháp luật điều chỉnh quan hệ cấp Giấy quyền sử dụng đất cho đối tượng sử dụng đất đai chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng nhưng phù hợp với quy hoạch, kế hoạch của nhà nước là sai lầm của Tòa án, không phù hợp với các điều 3,4, 688 Bộ luật dân sự năm 2005; Nghị định 91/2019/NĐ-CP. Nhận định (2): “ Kể từ thời điểm xác lập giao dịch chuyển nhượng đất, gia đình ông Lưỡng không quản lý sử dụng đất. Ngược lại, gia đình ông Vũ Văn Hướng quản lý sử dụng đất liên tục trồng cà phê tiêu năm 2008, xây dựng nhà năm 2011 ”.

Ông Lưỡng khẳng định: nội dung nhận định của Tòa án phúc thẩm không khách quan, không phản ánh đúng nội dung tài liệu có trong hồ sơ vụ án về quá trình khai hoang, chuyển nhượng đất đai giữa các hộ dân và thời điểm phát sinh tranh chấp đất đai, Hội đồng xét xử vô tình thông cảm với sai phạm của UBND xã trong việc không giải quyết tranh chấp đất đai tại địa phương theo luật định. Với tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đủ chứng minh đất có tranh chấp từ 2009 đến 2017 không được UBND xã giải quyết theo các điều 135, 136 Luật đất đai năm 2003. Nhận định (3): “Bản án sơ thẩm xác định giao dịch chuyển nhượng đất giữa ông Nguyễn Văn Vịnh với ông Trần Văn Lưỡng có hiệu lực và chấp nhận đơn khởi kiện của Trần Văn lưỡng buộc ông Vũ Văn Hướng và Trần Thị Tuyết trả lại cho ông Trần Văn Lưỡng và Nguyễn Thị Thoa diện tích 19,456 m2 là vi phạm Điều 127 Điều 137 Bộ luật dân sự.” Ông Lưỡng cũng cho rằng, vấn đề này không phù hợp nội dung thụ lý và giải quyết vụ án của Tòa sơ thẩm. Bản án sơ thẩm số 01/2021/DS-ST ngày 05/01/2021 của TAND huyện Đắk Song không giải quyết tranh chấp hợp đồng.

Ông Trần Văn Lưỡng đề nghị xem xét lại nội dung Bản án của TAND tỉnh Đắk Nông

Về căn cứ xác định việc sử dụng đất ổn định, được quy định tại Điều 21 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, như sau: Do diện tích đất tranh chấp, ông Lưỡng có Giấy tờ về mua bán đất, có chữ ký của các bên liên quan, được hợp pháp hóa theo Nghị định số 43/2014/NĐ-CP; diện tích đất tranh chấp, Nguyên đơn có Giấy tờ về mua bán đất, là đối tượng được xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, theo quy hoạch, kế hoạch quản lý, sử dụng đất đai của UBND cấp có thẩm quyền.

Do diện tích đất ông Trần Văn Lưỡng mua nhưng có tranh chấp về nguồn gốc sử dụng đất đai nên Tòa án sơ thẩm đã thụ lý, giải quyết là đúng theo trình tự pháp luật quy định. Theo đó, Tòa sơ thẩm xác định việc mua bán đất giữa ông Nguyễn Văn Vịnh với ông Trần Văn Lưỡng nay được pháp luật chấp nhận nên Tòa án chấp nhận đơn khởi kiện của Trần Văn Lưỡng, buộc ông Vũ Văn Hướng và Trần Thị Tuyết trả lại cho ông Trần Văn Lưỡng và Nguyễn Thị Thoa diện tích 19,456 m2, không vi phạm vi phạm Điều 127 Điều 137 Bộ luật dân sự. Như vậy, phán quyết của Tòa sơ thẩm phù hợp với các điều 3, 4, 122, 688 Bộ luật dân sự năm 2005; các quy định của Luật đất đai năm 2003 tương ứng các điều 3, 5, 6, 7, 9, 11, 12 Luật đất đai năm 2013; Quyết định số 327-CT ngày 15/9/1992; Quyết định số: 556/TTg ngày 12/9/1995 của Hội đồng Bộ trưởng; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014; Nghị định 01/2017/NĐ-CP; Nghị định 91/2019/NĐ-CP. Vì vậy, Tòa sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của ông Lưỡng, buộc bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn 19456 m2 ,đất như trên là đúng quy định của pháp luật về dân sự và các quy định của pháp luật đất đai. Tòa sơ thẩm không vi phạm điều 127, 137 Bộ luật dân sự.

Thiết nghĩ, các cơ quan tố tụng cần phải tôn trọng chứng cứ, sự thật để ra những quyết định đúng quy định pháp luật, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp của người dân chứ đừng đưa ra những nhận định không phù hợp với thực tế làm bất lợi cho người dân như trong vụ án trên./.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l