Chuyển đến nội dung chính

Yên Bái: Giàu nhất làng vì ròng rã hơn 8 năm "chôn kho báu" tiền tỷ dưới đất rừng

 Từ ý chí và sức lao động, mỗi ngày trồng vài chục cây, 8 năm sau, ông ông Nghiêm Xuân Thành ở thôn Ngòi Bang, xã Bảo Ái, huyện Yên Bình (tỉnh Yên Bái) đã có những cánh rừng xanh ngát.

 Bình luận 0

Cũng tay trắng trồng rừng như bao người khác, nhưng với suy nghĩ cây rừng càng to thì càng có giá trị, đã làm đủ nghề mưu sinh để nuôi rừng gỗ lớn. 

Khi cây rừng phát triển chững lại thì ông Nghiêm Xuân Thành mới gọi bán và lúc này mỗi héc - ta rừng gỗ lớn của ông thu về từ 200 - 300 triệu đồng.

Yên Bái: Giàu nhất làng vì ròng rã hơn 8 năm "chôn kho báu" tiền tỷ dưới đất rừng - Ảnh 1.

Ông Nghiêm Xuân Thành, thôn Ngòi Bang, xã Bảo Ái, huyện Yên Bình (tỉnh Yên Bái) bên rừng keo gỗ lớn.

Những năm 1990, rừng ở Bảo Ái bạt ngàn gỗ quý. Ông Thành theo bạn bè cùng trang lứa lên rừng lấy gỗ về làm nhà và để mưu sinh. Những cây gỗ to cả người ôm bị đốn hạ không thương tiếc. 

 

Dần dần ông nhận ra rằng, rừng có nhiều gỗ đến mấy thì khai thác mãi cũng cạn kiệt. Bởi vậy, khi Nhà nước có chủ trương giao đất lâm nghiệp cho dân trồng rừng, ông đã nhận những quả đồi hoang vu lau lách để trồng rừng. Khi đó, "vốn liếng” của ông chỉ là sức lao động của gia đình và ý chí làm giàu từ rừng.

 

Để thực hiện ước mơ làm giàu từ rừng, ngày ngày hai vợ chồng ông đùm cơm gạo lên đồi phát cỏ trồng cây. Mỗi ngày trồng vài chục cây và 8 năm sau, ông đã có những cánh rừng xanh ngát. Nhưng 3 ha rừng đầu tiên của vợ chồng ông khai thác bán cũng chỉ thu về có 80 triệu đồng. 

 

Ông nhẩm tính: nếu cứ bán rừng non thì không thể khá lên được, vì lại phải dốc hết vốn liếng tái đầu tư. Để giải quyết bài toán kinh tế, chỉ có thể nuôi rừng gỗ lớn, vì cây càng to thì càng giá trị. 

 

Với cách nghĩ này, ông bàn với vợ trồng 7 ha rừng keo và lần này nuôi đến khi nào cây không phát triển được nữa mới bán. Tuy nhiên, khi rừng keo đã bén rễ lên xanh thì ông đứng trước gánh nặng cơm áo gạo tiền. 

 

Để có tiền nuôi con cái học hành và nuôi rừng, ông khoác ba lô đi làm thuê mướn đủ thứ việc. Vợ ông ở nhà thì chăn nuôi lợn, gà để có tiền nuôi hai đứa con ăn học. Khi cánh rừng đủ tuổi khai thác, ông tỉa bán dần những cây kém phát triển. 

 

Mãi đến năm 2016, ngành nông nghiệp mới có chủ trương thí điểm trồng rừng gỗ lớn thì việc này ông Thành đã làm cách đây gần chục năm. 

 

Ông phân tích: nếu trồng rừng gỗ nhỏ thì chỉ dùng làm gỗ dăm hoặc nguyên liệu giấy. Giá bán mỗi mét khối được trên dưới một triệu đồng mà cứ hết 5 hoặc 6 năm là phải dốc vốn liếng để đầu tư cho chu kỳ mới. 

 

Trong khi đó, trồng cây gỗ lớn để lấy gỗ xẻ phục vụ chế biến thì mình nuôi càng lâu, đường kính thân cây càng lớn càng được giá, bởi từ năm thứ 5 và năm thứ 8, cây rừng có sự sinh trưởng, phát triển mạnh. 

 

Tuy nhiên, với mật độ cây dày đã gây ra cạnh tranh dinh dưỡng, nên nếu không tỉa thưa thì cây có xu hướng phát triển về chiều cao, hạn chế phát triển đường kính. 

 

Việc tỉa thưa sẽ giúp mở tán, giảm cạnh tranh dinh dưỡng để cây sinh trưởng mạnh về đường kính. Do vậy, đường kính cây rừng kinh doanh gỗ lớn có thể tăng gấp đôi so với kinh doanh gỗ nhỏ. 

 

Hiện tại, cây có đường kính từ 25 - 30 cm bán được từ 2,3 - 2,5 triệu đồng/m khối gỗ, chưa kể chỉ đầu tư vốn, giống để trồng một lần nên giá trị kinh tế vừa cao hơn vừa góp phần không nhỏ bảo vệ môi trường. 

 

Khi hỏi về kinh tế rừng, ông Thành cho hay: "Có người đến trả cánh rừng này 1,2 tỷ đồng rồi nhưng tôi chưa bán. Giờ kinh tế cũng đã tạm ổn, nên khi nào cây không phát triển được nữa thì lúc đó mới tính. Còn hiện tại, chỉ cần tỉa thưa rừng là gia đình tôi đã bảo đảm tốt cuộc sống”.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây măn hay cây găng bầu

Gỗ măn ( hay còn gọi là gỗ găng bầu) là loại gỗ quý hiếm , đang và sắp bị tuyệt chủng tại các khu rừng núi đá khắp các tỉnh miền núi miền bắc nước ta. Cũng giống bao loài gỗ quý hiếm khác sống dọc trên các dãy núi đá vôi tại các khu rừng nhiệt đới miền bắc nước ta , thời xa sưa có rất nhiều loại gỗ quý hiếm khác, như đinh , lim, nghiến , sến, táu, gụ, kháo đá , lát đá , trong đó còn có cả 1 số loại gỗ có mùi thơm và lên tuyết ; như hoàng đàn , ngọc am, gù hương . dã hương , bách xanh ..vvv…. XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-man/ Gỗ măn  là 1 loài gỗ sống trên các vách núi đá vôi hiểm trở , thân cây có mầu hơi đen bạc, cây thường mọc rất cao từ 5-20m , lá to và mỏng có lông tơ , vẫn như các loại cây khác thường thân cây được cấu tạo gồm 3 lớp : lớp vỏ, lớp giác và lớp lõi , lớp lõi non bên ngoài có vân càng vào trong tâm lõi vân càng già và đẹp , thường cứ 1 năm sẽ có 1 lớp vân , nên khi thợ cắt cây biết được độ tuổi của cây, nhưng điều đặc biệt là từ kh

Một số thông tin về gỗ Kim Tơ Nam Mộc hay Nam Mộc Tơ Vàng từ Trung Quốc

XEM:  https://phongthuygo.com/mot-so-thong-tin-ve-go-kim-to-nam-moc-hay-nam-moc-to-vang-tu-trung-quoc/ Kim Tơ Nam Mộc (Nam Mộc Tơ Vàng), là loại gỗ quý đặc biệt chỉ có ở TQ, vân gỗ tựa như sợi tơ màu vàng, cây gỗ phân bố ở Tứ Xuyên và một số vùng thuộc phía Nam sông Trường Giang, do vậy có tên gọi Kim Tơ Nam Mộc. Kim Tơ Nam Mộc có mùi thơm, vân thẳng và chặt, khó biến hình và nứt, là một nguyên liệu quý dành cho xây dựng và đồ nội thất cao cấp. Trong lịch sử, nó chuyên được dùng cho cung điện hoàng gia, xây dựng chùa, và làm các đồ nội thất cao cấp. Nó khác với các loại Nam Mộc thông thường ở chỗ vân gỗ chiếu dưới ánh nắng hiện lên như những sợi tơ vàng óng ánh, lấp lánh và có mùi hương thanh nhã thoang thoảng. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ PHONG THỦY CỦA KIM TƠ NAM MỘC Kim Tơ Nam Mộc được phân thành nhiều đẳng cấp thường căn cứ theo tuổi của cây gỗ, tuổi càng cao thì gỗ càng quý. Cao cấp nhất là Kim Tơ Nam Mộc Âm Trầm ngàn năm. Loại này là phát sinh biến dị tự nhiên từ hai ngàn năm

Tìm hiểu chi tiết về gỗ cây kháo, nu kháo tự nhiên và giá trị trong nội thất

XEM:  https://phongthuygo.com/tim-hieu-chi-tiet-ve-go-cay-khao-nu-khao-tu-nhien-va-gia-tri-trong-noi-that/ GỖ KHÁO VÀNG THUỘC NHÓM MẤY, LÀ LOẠI GỖ NHƯ THẾ NÀO? Tại Việt Nam chúng ta, gỗ được phân loại thành 8 nhóm đánh số thứ tự bằng chữ số la mã từ I đến VIII. Cách phân loại này dựa trên các tiêu chí như đặc điểm, tính chất tự nhiên, khả năng gia công, mục đích sử dụng và giá trị kinh tế … Cao nhất là nhóm I và thấp nhất là nhóm VIII. Gỗ kháo thuộc nhóm gỗ số VI, đây là loại gỗ phổ biến ở Việt Nam, nó có những đặc điểm như nhẹ, dễ chế biến, khả năng chịu lực ở mức độ trung bình. Khi quyết định dùng gỗ để làm nội thất thì chúng ta rất cần tìm hiểu gỗ thuộc nhóm mấy, có những tính chất như thế nào, giá thành ra sao để đảm bảo lựa chọn được loại gỗ ưng ý nhất, phù hợp nhất với yêu cầu và mục đích của mình. Có 2 loại gỗ nu kháo: Gỗ nu kháo đỏ Gỗ nu kháo vàng Gỗ kháo có tên khoa học là Machinus Bonii Lecomte, đây là loại gỗ xuất hiện rất phổ biến ở nước ta và các quốc gia l